RSS

Đọc “Vong bướm” và “Truyền thuyết tìm Vua”

26 Th8

ĐỌC VONG BƯỚM VÀ TRUYỀN THUYẾT TÌM VUA

Hồ Cảnh Hưng

Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trên văn đàn, trong dư luận với tôi là những tin văn hấp dẫn nhất. Ông làm cho tình hình văn viết của nhiều người phấn khởi lên. Sách của ông mua rồi nhìn thấy lại còn muốn mua nữa. Sáng ra, nhớ lấy một cặp lục bát. Như sáng nay:

Đời người giấc mộng phù vân

Mê man trong cõi nhân quần với nhau.

Cũng thấy có ngay một sự khởi đầu của một ngày… Rồi một đời, một kiếp. Sống mệt sống mỏi, thế nào rồi cũng toi. Chỉ khi đọc được một cái gì hay, suy nghĩ, biến nó thành những sự thường, những sự vô thường thì đời sống mới có ý nghĩa. Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói lên cái lẽ thường và vô thường. Cuộc sống có ngôi nhà, con đường, mặt trăng, đỉnh núi. Có người tình, hố phân, cái ngu, cái đần… Có bà vợ, bà người tình, văn chương, chèo, thơ. Có nhà thơ hay, có nhà thơ dở. Có người trầm, người bổng. Có người nói ngược, có kẻ nói xuôi. Nhà văn chỉ ra những sự thường, những sự vô thường. Ông nói đời là thế, lẽ đời là thế. Ông chỉ trình diễn thế giới, bày hiện nó ra để người đọc suy ngẫm. Tôi rất thích những câu nói của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong những hoàn cảnh dư luận của ông. Chừng nào không còn bên Nam bên Nữ, bên Ghét bên Yêu xung quanh nhà văn nữa sẽ không còn Nguyễn Huy Thiệp nữa! Nguyễn Huy Thiệp là văn đàn. Tôi đọc hai tác phẩm Vong bướm và Truyền thuyết tìm vua của ông suốt ba, bốn tuần qua, đến bây giờ nhìn vào hai tác phẩm tôi thấy chỉ còn toàn giấy.

Vô cùng tuyệt vời:

Một đàn cò trắng bay tung,

Bên nam bên nữ ta cùng hát lên!

Hát lên khởi sự nhân duyên,

Rồi xem sự thể biến thiên thế nào?

Nước nhà gặp vận lao đao,

Kiếp người chìm nổi náo nhào không yên.

Mong sao đời có vua hiền,

Yên đời đẹp Đạo khắp miền vang ca.

Làng trên xóm dưới thuận hòa,

Ấm no hạnh phúc muôn nhà đều vui.

Thăng trầm biến dịch đầy vơi,

Cốt sao giữ được muôn nơi quân bình.

Anh còn xinh, chị cũng còn xinh,

Người xinh cái tỉnh tình tinh cũng giòn!

Thượng nhân, hạ nhân ít, trung nhân nhiều. Ok! Truyền thuyết tìm vua khơi dậy được một cảm quan mới về đời sống. Truyền thuyết tìm vua mang lại những điều lành, những điều tuyệt vời.

Khi nào phân biệt được lá Tre với là Trúc, ấy là giờ Tí. Khi phân biệt được Chó với Mèo ấy là giờ Mão… Chỉ cần như thế. Văn hay siêu thoát, trữ tình, đẹp đẽ và chân thành ở đâu đó trong mỗi chữ, mỗi câu, mỗi hiển thị cái nhìn. Văn hay đâu đó từ kẻ đang nằm thao thức giữa đêm lật sách ra ngẫm nghĩ những sự thường, những sự vô thường.

*

Truyền thuyết tìm vua mới mẻ, kì vĩ, lạ lùng như một ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời. Nó có vô lượng nhạc điệu, hình ảnh, âm sắc. Nó hân hoan, vui nhộn, thái hòa. Nó tuyệt diệu trong mỗi tình tứ, câu chữ. Nó như một sinh thể trọn vẹn. Nó vượt lên các tầng thức đối lập nông thôn, thành thị, những mảnh vụn tư tưởng manh mún bên dưới để tràn đầy, hoan hỉ. Nó soi chiếu uy lực của nó xuống tâm tư người đọc. Như cây quang hợp ánh sáng, nó làm phát sinh vô số cảm nhận và ý nghĩa.

Vong bướm và Truyền thuyết tìm vua, hai tác phẩm, lại cấu tạo lên nhau và lẫn nhau, trở thành như một ngọn núi lớn. Mỗi tác phẩm không còn cái ý nghĩa có thể rút (ruột) ra như một thông điệp đơn phương nữa mà là cả một sự trình diễn sản sinh tổng thể ý nghĩa. Tôi đã đọc hai tác phẩm này trong ba tuần liền, càng đọc, càng thấy nó càng khơi thông trong tôi nhiều nguồn mạch hiểu biết mới.

Vong bướm làm chấn động tâm linh, hiển lộ cho thấy cả một chân lý khổ của thời đại. Truyền thuyết tìm vua nối kết cái chấn động đó lại với nhau, khơi thông, hình thành một thế giới mới. Cái trận Điệp Lang kí bản khế ước với Ma vương tôi cảm nhận hệt như chính Điệp Lang sau khi tỉnh dậy: chỉ trong một chớp mắt, một cơn ác mộng. Tất cả trở nên hoang tàn:

Như ta đây, đích thị Ma vương!

Ta phiêu bạt trên cánh đồng bạt gió!

Những cơn lốc điên cuồng là ta đó!

Là lũ tràn, là sấm sét, là bão giông!

Là bạt ngàn gốc rơm rạ giữa đồng,

Khói nghi ngút kín chân trời khao khát!

Ta ướt rượt giọt mồ hôi đắng chát,

Là hoang vu, là mê sảng, là cô đơn!

Là mất mùa, là dịch bệnh, là oán hờn!

Là xương trắng rải trên từng vuông đất!

Ta sa mạc những bờ xôi, ruộng mật,

Ta giết dần những giấc mơ hoa!

Ta biến cô thiếu nữ thành bà già,

Ta làm kiệt sức những chàng trai trẻ!

Ta là cô hồn, ta là tận thế,

Ta là bài ca tuyệt vọng cõi nhân sinh!

Ta là cơn lốc bất thình lình,

Ta ập đến trong sát-na, trong thời khắc!

Ta ký những giao kèo bí mật,

Ta ký trong thoả thuận tâm linh.

Ta ký giao kèo với các sinh linh…

Ta đã đến!

Ta đã thấy!

Và ta đã thắng!

Sấm sét, khói lửa. Bọn quỷ xô đẩy, nhảy múa. Điệp Lang ký vào một bản lụa trắng. Ma vương giật lấy, bỏ đi. Tất cả như trong ác mộng!

Chỉ trong một chớp mắt, Điệp Lang:

Ta đã phó thác số phận mình cho quỷ dữ!

Cho ngất ngây,

Cho say đắm,

Cho hoang vu!

Cho loạn luân,

Cho khát vọng,

Cho hận thù!

Cho ảo tưởng,

Cho thiên thu,

Cho sống chết!

Cho quạnh hiu,

Cho nụ cười,

Cho ly biệt!

Cho điêu tàn,

Cho dục vọng,

Cho tự do!

Cho điên cuồng,

Cho mệt mỏi,

Cho âu lo!

Cho sung sướng,

Cho du dương,

Cho bất lực!

Để đổi lại,

Ta chỉ đòi:

TỈNH THỨC!

Sùng ông quát những trận lôi đình:

Con ơi, ới con ơi!

Mình sinh ra nơi chốn quê nghèo,

Sao (con) không tri túc cho (nó) đỡ gieo neo (cái) thân mình!

Con đánh đu với lũ (bè bạn) yêu tinh,

Con mơ mộng hão linh tinh (để) làm gì?

Đường gần con lại không đi,

Ở quê an phận ngủ khì (có) hơn không?

Như cha con đây vài xị rượu đế là xong,

Sớm trưa chiều tối thong dong (cho) qua ngày!

Mặc cho Nam Bắc Đông Tây,

Nếu giời có sụp lão này vẫn bình an!

Lão say nên lão mới nhàn…

Giàn đồng ca, tôi thấy, khi thì như một đàn tiên nữ rao giảng về một nước thiên đường mới, khi thì như bầy yêu quái lưu linh giáng xuống những dự báo tai họa. Giàn đồng ca chỉ ra những sự báng bổ, sự đánh mất thiên đường… Kể từ sau cái bản khế ước của Điệp Lang với Ma vương, tôi thấu suốt từng đường nét một cái thảm kịch được liệt kê của vở kịch, kể cả cái đàn tế ma vong lịch sử.

Tôi thích cái khí lực thế này:

Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường!

        Đéo diện lượt là, đéo đế vương! 

        Đéo vênh vang mặt: giai đéo sợ!

        Đéo giáo dở lòng: gái đéo thương!

        Đéo khoác lác cho phường vô dụng!

        Đéo cúi luồn hoá đứa bất lương!

        Đời có ra chi mà đéo chửi!

        Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường!  

Và:

Lộ phùng tri kỷ thiên bôi tửu,

Uống nữa đi và say khướt nữa đi.

Truyện trăm năm thôi đéo có ra gì!

Say một tối ấy là vui một tối!

Tiên sư thằng nói dối!

Đéo mẹ đứa giả vờ!

Sống ở đời thấy rượu lại thờ ơ!

Thật chúng nó ngu hơn đồ con chó!

Uống nữa đó, lại say nữa đó!

Đù cha thằng ngơ ngẩn cười ông!

Chúng mày có biết hay không?

THƠ

Thơ là một cảm quan vô lượng. Thơ như một sự chứng đắc tâm linh. Thơ đưa ra sự chứng thấy của tâm. Thơ là sự kiện của tâm hồn. Chứng ngộ sẽ thấy ra một cái gì đơn giản như thơ. Nghệ thuật của thơ là làm cho sự chứng ngộ đó truyền đạt được sang người khác. Thơ là ngôn ngữ cá thể (của nhà khoa học, nhà nghệ sĩ, bác học, của kẻ đi một mình, của người bất hạnh, của thiên tài). Thơ là tâm hồn.

Các nhà khoa học vật lý thiên văn, một lúc nào đó không còn thấy các công thức định luật vật lý nữa mà thấy thơ. Họ bảo như thế. “Tôi thấy một cách trực tiếp các định luật vật lý trong cái nhìn”. Một nhà quan sát thiên văn nhốt mình trên núi hàng ngày thao thức dõi hai con mắt lên trời nói như vậy. Ban đầu thì xét xem điều này điều nọ, sau quên luôn tất cả các định luật và sự xét xem, thì bỗng hoác ngộ ra… Ông ta đến gặp một nhà sư từ Việt Nam sang thuyết pháp nói rằng hình như tôi thấy vũ trụ rỗng không. Ông ta nói như thế. “Trở về đời sống, nhìn điều này điều nọ như thực, tôi khốn đốn vô cùng”. Nhà sư hỏi cặn kẽ hơn thì ông ngâm nga một cái gì nghe như thơ!

Thơ là sự bừng thức cái tính không. Thơ là giác quan nguyên thủy của con người. Một đêm tối với giấc mơ màng đột nhiên ta bừng tỉnh giấc, thấy trống không! Mọi điều trở nên hy hữu, kì lạ, không nguyên nhân gốc gác. Thậm chí là sai trái, ngu độn… Chỉ có một cái gì đó là đúng, cảm nghe như nó là Niết bàn…

Thơ bày tỏ cái trái khoái, bất hợp lý của đời sống:

Đời người giấc mộng phù vân

Mê man trong cõi nhân quần với nhau.

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.

Gần nhau cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.

Nàng về làm dâu nhà tôi

Vườn cau có thẹn với đôi tay ngà

Năm sau tôi trở lại nhà

Xem giàn đỗ ván ra hoa có nhầm.

Ơi thôn vân, hỡi thôn Vân

Nơi nao kết dãi mây Tần cho ta

Từ nay khi nhớ quê nhà

Thấy mây Tần tưởng đó là thôn Vân.

Nó thấy, nó biết! Mặc dù nó chẳng nghe có ai lời ong tiếng ve về nó. Nhưng nó biết. Nó hiểu cả cái khốn đốn, bất lực của nó:

Chén sầu ly biệt sân ga,

Nào ai nghĩ đến đường xa mà lường?

Muôn ngàn nhớ, muôn ngàn thương,

Biết đâu Hà Nội là phương hướng nào?

Đêm tàn tỉnh giấc chiêm bao,

Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn.

Chén sầu đổ ướt tràng giang,

Canh gà bên ấy giằng sang bên này.

Rằng muối mặn, rằng gừng cay

Tha hương phiêu bạt tháng ngày chờ trông.

Một mình ai nắm tay không,

Tin đồn toàn chuyện bướm ong gửi về,

Tiếng gà eo óc xóm quê,

Thức thi cùng nến dầm dề mưa giông.

Nào ai Tuyết Tuyết, Hồng Hồng,

Xuân, Lan, Thu, Cúc, Thảo, Hồng là ai?

Con sông không rộng mà dài,

Con đò không chở những người chính chuyên.

Hết Lào rồi lại Cao Miên,

Tắm trong một cái biển tiền người ta.

Biển tiền ôi biển bao la,

Mình không kiếm được cũng là tay không…

Thơ là nỗi cùng cực thế thái nhân tình. Thơ là hơi thở nặng nhọc kiếp người. Thơ buồn muốn khóc! Thơ như sự trắc trở của đường đời, của lòng người. Thơ là sự tiên liệu về cái chết, về đời sống. Thơ buồn ghê lắm, mà sâu nặng cũng ghê lắm. Thơ là nước mắt suông không mang lại lợi ích. Nhưng thơ cũng như tàn nhang rụng dưới chân miếu hoang đốt lên bởi một thiếu nữ thất tình được thần thánh chứng nghe. Thơ là lời mách bảo của quá khứ, của thánh thần. Trong thơ có cả những vị thần cỡi chim hoàng hạc bay… Thơ là mẹ của mọi thể loại văn học.

Cả một mặt trận thơ trong Vong bướm tôi thấy là một khối thống nhất và khủng khiếp. Vong bướm chuyền tải một cách tuyệt đối, siêu việt và bí ẩn nhất bản chất đời sống hiện tại của tôi. Vong bướm dẫn dắt tâm linh người đọc đến chứng đắc tường tận cái mà nó đang thấy: Một lũ lượt ma vong trên các sân ga, bãi chợ, bến tàu. Những nắm xương trắng của cả một triều đại lưu lạc con người.

Vong bướm hiển lộ cho chân lý khổ của thời đại. Vong bướm là một lâu đài thơ toàn vẹn và hoản chỉnh nhất từ trước tới nay tôi từng được biết.

Tâm thức giữa hai con người vượt khỏi nhóm riêng rẽ ở các hoàn cảnh sống khác nhau để gặp gỡ nhau. Thơ của cổ nhân, của tha nhân xưa là tâm của người hiện tại. Cũng như bà mẹ hát ru con bằng lục bát, bằng văn vần (đa số là lục bát) đã đi vào tâm hồn những người con sau này như thế nào.

Ở Vong bướm, thơ đánh thức một cửa ngõ tâm linh người đọc. Nó đưa ta vào một trận đời khủng khiếp, hung tàng, đầy những tiên tri về thế giới mình:

Bởi chưng số kiếp con người,

Trầm luân bể khổ lòng đầy đa đoan.

Nào phùng thời, nào thở than,

Vuốt xuôi mái tóc bỏ làng mà đi!

Đò tôi bến Đục sông Si,

Gió lên một chuyến chèo ghì sang Nam.

Cờ chưa tàn, pháo chưa hoàn,

Con sông Dịch đó, lại sang tốt đầu.

Truyện Kiều còn nhớ đôi câu:

“Trời cao sông rộng một màu bao la”

Tháng ngày lần lữa trôi qua,

Gió đông nam vắng nghĩ mà buồn tênh!

Lênh đênh cát bụi kinh thành,

Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe…

Lầm lầm, lẫn lẫn, u mê…

Những câu thơ tài danh một thuở của Nguyễn Bính tung ra trong trận Vong bướm, ở lần đọc đầu tiên tôi méo cả mặt. Tôi nghe như có sự rò rỉ thông tin hạt nhân nguyên tử hoặc một nước thiên đường mới hình thành:

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,

Học người xưa, bày tế cõi âm.

Gọi về hết thảy loại vong,

Thuộc dòng vong bướm Đàng Trong, Đàng Ngoài.

Cùng là trong hội liên tài,

Đoạn trường đứt ruột với ai một nhà.

Uổng thay mệnh bạc tài hoa,

Tha hương cầu thực xa nhà chết oan!

Về đây tụ họp dưới đàn,

Vong nào vong nấy xếp hàng nghe kinh!

Cũng như thập loại chúng sinh,

Sinh ư tử nghiệp vì tình mà theo.

Phàm những kẻ trèo đèo, lội suối,

Đến những vong chết đuối vực sâu.

Bến xe, bãi chợ, ga tầu,

Thành cao hào rộng ngõ hầu tử vong.

Cả những vong đi tong bàn rượu,

Mặt đỏ gay sừng sộ líu lô.

Chuyện đời bể Sở sông Ngô,

Thiên la bát xát giang hồ mà vong!

Rồi những kẻ bẽ bàng sắc dục,

Giữ bề ngoài nảy mực cầm cân.

Ban ngày quan lớn như thần,

Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Sớm đào tối mận lân la,

Đầu tiên sờ đít sau ra sờ đùi…

Lại những vong công hầu khanh tướng,

Nơi thâm nghiêm thì thụt vào ra.

Lăm le gánh vác sơn hà,

Bạn bè toàn những mãng xà diều hâu.

Trường danh lợi biết đâu là đủ,

Danh càng cao thù oán càng cao.

Thác đi vênh váo được nào,

Văn thơ để lại vận vào tiếng nhơ!

Cũng nhiều vong bơ phờ hốc hác,

Tưởng như mình thiên chức tài cao.

Trường văn trận bút ào ào,

Viết hàng đống sách vứt vào lãng quên.

Cho hay trong trận bút nghiên,

Cơ trời thành bại mới nên được nào!

Có những vong ngôi sao từ bé,

Khi người ta còn trẻ tài cao.

Ngây thơ hồn hậu dường nào,

Tiếc thay bỏ lỡ rồi vào lãng quên!

Có những vong bạc tiền như nước,

Dăm câu thơ câu được câu không.

Mượn phường đàn nhị bát âm,

Le te phổ nhạc hát ầm xung quanh.

Chết đi chỉ bọn thập thành,

Quên quên nhớ nhớ đàn anh đa tài!

Lại những vong rạc rài khói thuốc,

Thân hình như móc dưới cống lên.

Văn chương mặt lạnh như tiền,

Viết ra những chuyện nửa điên nửa khùng.

Tự xưng tài tử đa cùng,

Chết đi ai biết nhặt xương cho người?

Kìa những vong tươi cười điếm đáp,

Lập loè như đom đóm hàng đêm.

Ngược xuôi văn bút bao niên,

Chết rồi chẳng biết người hiền hay ngu!

Những là “tứ hải quần chu”,

“Giai không vạn cảnh” thiên thu những là…

Không đếm xuể vong ma các loại,

Thôi thôi đành đại khái nêu danh,

Về đây hớp rượu bát canh,

Lá đa cháo lão hợp thành đàn siêu!

Đừng chê dù ít hay nhiều,

Uy linh phép Phật nhiễu điều giá gương.

Cùng chung một lẽ vô thường,

Đi đâu cũng chỉ thấy đường mà thôi!

Khi còn sống lúc khóc cười,

Thị phi chỉ để mua vui cho sành!

Văn đàn một cuộc đua tranh,

Dở hay cũng phải để dành thiên thu.

Bảo nhau nên chọn đường tu,

Mênh mang cửa Phật trì đồ chúng sinh.

Từ bi phổ độ hữu tình,

Không không sắc sắc cho mình cho ta.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Dọn lòng siêu thoát gần xa thượng đài!

…(lược bớt)…

Cái gọi là “hồn tôi”, “hồn cô” được liệt kê trong đoạn thơ sau đây tôi hiểu là sự cách trở của nhân gian, của bản nguyên trong trắng mình lúc trước so với thời bây giờ:

Thương thay số kiếp con người,

Trầm luân bể khổ đời người đa đoan.

Trước là do tại lòng tham,

Sau là sân hận lòng toàn ghét ghen.

Ngu si tăm tối ươn hèn,

Mê mê sảng sảng bon chen hận thù.

Mình ngu chẳng nhận mình ngu,

Sao không biết chọn đường tu cho mình?

Trúc xinh trúc mọc sân đình,

Em xinh em đứng một mình cũng xinh!

Bởi chưng do bởi chữ Tình,

Nên ân nên oán nên mình nên ta.

Hồn tôi là một bài ca,

Du dương những mộng, những hoa, những đàn.

Hồn cô toàn những đa đoan,

Vào trong chỉ thấy toàn oan với cừu!

Hồn tôi sương sớm nắng chiều,

Sương mờ nhàn nhạt, nắng chiều rưng rưng.

Hồn cô là đấu, là thưng,

Đo đo đếm đếm đến từng sợi tơ!

Hồn tôi ra ngẩn vào ngơ,

Hồn cô tỉnh thức giấc mơ giàu nghèo!

Hồn tôi giếng ngọt trong veo,

Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh.

Hồn cô cát bụi kinh thành,

Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe.

Lầm lầm lẫn lẫn u mê…

Riêng một cái nạn này, tôi thấy, đã là một đại nạn, một sự mất tích, điêu tàn của cả một đời con người ta rồi, chưa nói gì đến cả một cỗ xe Vong bướm có tới bốn quỷ, bốn núi (Tửu, Sắc, Yên, Đổ và bốn ông Sinh, Lão, Bệnh, Tử).

LỤC BÁT

Tôi nghĩ lục bát là vua của các thể loại thơ ca của Việt Nam. “Lục bát còn, tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn, nước Việt còn”. Các triều đại của con người có thể nó đã trải qua hết các hưng phế, thịnh suy của các đời vua chúa nhưng cũng có thể nói, liền một mạch trên bầu trời là sự thống trị của lục bát, của các hình thức nghệ thuật dân gian (lời ngâm hoặc lời nói của người Việt có cấu trúc cặp đôi lục bát và là lục bát). Mới đây, ở trên mé sông Bình Dương tôi nghe trai gái đối đáp… Tự nhiên đã có lục bát:

Nước bãi Tàu không xanh cũng mát

Trai khu phố 4 không lác cũng lang beng! (các cô nói)

Lươn không nấu canh cũng nấu cháo

Con gái Chợ Cây Dừa không bạo cũng dâm! (trai đáp lại)

Từ sau đọc Vong bướm tôi nghĩ tới lục bát rất nhiều. Đi đâu tôi cũng thấy lục bát. Ví dụ, nhìn một ngôi nhà với mái bên trên, tường bên dưới tôi cũng nghĩ nó cũng là lục bát. Cái này ngửa, cái kia đậy. Đàn ông, đàn bà cũng một cặp lục bát. Xuồng độc mộc không phải là lục bát (nó cô độc). Nhưng xuồng có mái che là lục bát. Hít vào là câu sáu, thở ra là câu tám. Động mạch là câu sáu, Tĩnh mạch là câu tám.

Nó cũng Đạo chăng? Hãy thử nghe:

Một đàn cò trắng bay tung

Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.

Hát lên khởi sự nhân duyên

Rồi xem sự thể biến thiên thế nào.

Nước nhà gặp vận lao đao,

Kiếp người chìm nổi nháo nhào không yên.

Mong sao đời gặp vua hiền,

Yên đời đẹp Đạo khắp miền vang ca.

Nó lên, nó xuống. Nó tiền hô, hậu ủng. Nó hoàn chỉnh, tự tại. Nó là Đạo rồi!

Năm 2003 tôi đọc Chăn trâu cắt cỏ. Có bài lục bát tôi thuộc nằm lòng sau đây:

Sinh ra là kiếp con trâu

        Suốt đời tăm tối, dãi dầu nắng mưa.

        Thân tôi cổ cày vai bừa

        Nào thừng buộc, nào mõ khua rộn ràng.

        Xin ông, ông xử nhẹ nhàng

        Tôi xin nộp đủ thóc vàng cho ông

        Chú nghé tơ có độc chiếc răng

        Còn chưa vực được ông đừng vụt roi

        Tôi biết thân biết phận tôi rồi

        Tôi không hé miệng nửa lời với ai

        Gác sừng, rọ mõm, vểnh tai

        Cắn rơm cắn cỏ lạy ngài lượng cho

        Đêm năm canh tiết bốn mùa

        Chuồng xiu mái dột, gió lùa vẫn cam

        Ai ơi bưng bát cơm vàng

        Xót thương trâu đứng bên đàng lẻ loi

        Khi nào giết trâu tế trời

        Miếng thịt bùi ngùi, trâu hỡi là trâu.

Tôi đọc nhớ, sau tự nhiên những câu thơ hiện lại, xúc động vô cùng. Bài thơ nghe như lời của một cậu bé mồ côi trong chuyện cổ tích. Vừa vui nhộn, vừa khơi gợi lên một cái gì như lòng trắc ẩn cho kiếp con người, con trâu.

Ngày xưa, một thời gian nhớ đời, tôi ở Bình Phước. Nửa năm. Đi bẻ bắp, trồng sắn. Ở giữa rừng, bốn bên là núi xanh ngắt, hiu quạnh, một buổi trưa tôi nghe có người đàn bà hát ru con. Câu hát thế này:

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Tôi ngồi yên lặng giữa rừng, tôi nghe thấy cái gì mênh mông như cả cõi người… Sau này, nhiều khi nằm xuống, ban trưa, tôi lại nghe câu hát đó vọng về. Cảm giác của tôi với câu hát đó là cái gì như lời trâng trối của Lỡ bước sang ngang:

Cậy em, em ở lại nhà,

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường xót xa

Cậy em, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.

Và thì cũng khác gì:

Thân thiếu nữ như cây lụa trắng

Sớm tinh sương chào mẹ ra đi…

Đường xa cát bụi biết gì,

Dại khôn, phải trái thị phi chẳng lường.

Lần đầu tiên bên hồ Tây Tử,

Lòng trong như gàu nước giếng khơi.

Mối tình nào lước qua tôi,

Để bao ân hận, để rồi xót xa…

Sang ngang là sự thường. Nhưng, cái tiếng khóc của thiếu nữ một mình đi tới chỗ miếu hoang than khóc là việc khác. Hồi xưa, ở dưới Gò Công, Tiền Giang, có một cô gái nửa đêm lên miếu đốt nhang khóc. Rồi treo cổ… Người ta đến, thấy cả một vạt lá bị bứt rách thả dưới chân miếu…

Gió thốc thổi tan nhà cửa nát,

Dấn bước đời ân oán chìm sâu…

Mộng đời vọng tưởng giãi dàu,

Thoắt nhiên hết kiếp trên đầu bạc phơ…

Ngoảnh mặt lại ai ngờ chỉ thấy:

Không bóng hình, không một thân thương,

Chơ vơ bảng lảng bóng tùng,

Một vài ngọn núi trập trùng phía xa!

Chuông chùa vọng bóng chiều tà,

Mặt trời xuống núi la đà tịch dương…

Nhà văn cũng viết:

Ngoảnh mặt lại ai đều vậy cả

Nào thấy đâu hình bóng thân thương,

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.

Những điều về thơ tôi nghĩ là sự thấy trong thâm sâu cùng cốc cõi người… Trong đám lá tối trời!

Bầu trời thơ ca giăng lên trên cao nhất so với các nhóm thức khác nhau của các thời đại khác nhau. Thơ ca là triều đại bao trùm, hơn các triều vua chúa. Thơ hay luôn có tính tiên tri. Hoặc nói cách khác, và tôi nghĩ thế, thơ là tâm linh (thánh thần trong miếu hoang). Thánh thần nghe thơ, người thường chỉ ngâm thơ thôi.

VĂN HỌC

Trong vở kịch Mổ nhà văn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết:

– Những người nguyên thuỷ ca hát.

– Những bà mẹ kể chuyện cổ tích cho con.

– Các nhà sư đọc thơ tiếp sứ thần nước ngoài.

– Những cuộc thi tuyển chọn trạng nguyên.

– Những giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo và soạn chữ quốc ngữ.

– Những tờ báo đầu tiên.

(Văn chương thiêng liêng).

Tôi nghĩ đó là lâu đài thiêng văn học Việt Nam, là Chùa Một Cột! Là lý lịch tâm hồn người Việt. Và là lục bát! (các hình thức văn nghệ dân gian toàn là lục bát). Qua các thời đại, qua các bàn tay đưa nôi của các bà mẹ và những người con ưu tú, lục bát ngày càng phát triển.

“Văn học Việt Nam kể từ khi có chữ Quốc ngữ đến nay phát triển qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có những tác giả văn học đáng lưu danh. Thơ (đặc biệt là lục bát) chiếm vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên thế giới tâm linh, tâm hồn người dân Việt. Văn hóa đại chúng, nơi người xem cũng như người hát điều góp được sự sống linh thiêng của mình trong một vỡ chèo… Song đáng tiếc, có rất ít tác giả thơ lục bát kiệt hiệt để lại dấu ấn cho người đời sau. Trong vòng một trăm năm qua, Nguyễn Bính (1917-1966) là một trong những nhà thơ hiếm hoi đã tạo ra được nhiều cảm hứng nhất cho nhiều người viết. Trong kịch bản này, tôi đã dựa chủ yếu vào cuộc đời và những sáng tác của Nguyễn Bính để xây dựng nên hình ảnh về các nhân vật. Theo tôi, Nguyễn Bính (hơn cả danh hiệu một nhà thơ thông thường) ông thực sự là một vị á thánh của văn học Việt Nam. Khi còn sống, rất thú vị là Nguyễn Bính cũng từng đã viết chèo”.

Thật tuyệt vời. Trên cả tuyệt vời. Viết được cặp lục bát hay có thể sống lâu hơn cả mười cuốn sách, mười cuốn truyện, trăm bài tiểu luận, năm cuốn tiểu thuyết.

Có thể…

*

Hơn tháng qua, với tôi, là một chuỗi ngày hồ hởi. Hàng loạt các tin bài mới về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ra đời, lan tràn trên mạng như sóng trào. Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ở đâu thì ở đó có sự hoan hỉ. Vừa cái thế bay lên thái quá, vừa ổn định lại những giá trị chân chính của văn học. Trong cảm quan tôi, ông như một cây trụ định hải tiền thân của cây gậy Thiết Bản của Tề Thiên, tuy đánh Đông dẹp Bắc nhưng rất ổn định. Ông làm cho cái bể sóng cồn cào, nhấp nhô hơn nhưng cũng đồng thời làm cho nó ổn định hơn. Trong thâm tâm, không hiểu vì sao tôi cứ luôn xem ông là người trong hàng ngũ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Ông là một nhà văn vĩ đại, một thiên tài. Suốt bao nhiêu năm qua ông viết những tác phẩm hay nhất, nặng kí nhất, trữ tình và chân thực nhất về đời sống, về tâm hồn và con người Việt Nam. Hai tay bảy búa, một mình ông ngang dọc gian hồ suốt gần 40 năm, dựng nên một lâu đài văn học mới cho nước nhà, khiến những cái ấu trĩ, cạn cợt phải dừng lại ngay. Người ta không trao giải thưởng cho ông thì việc xét trao các giải lớn như Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh đều không biết dựa vào tiêu chí nào. Một mình ông, ông đi ra nước ngoài nhận giải. Ông viết đủ các loại, truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, tiểu luận, chèo! Mà thứ nào đọc cũng thuộc loại hay nhất. Đọc đi đọc lại những tác phẩm của ông, mỗi thời kì đều có toát một ý nghĩa, một suy ngẫm mới, một chứng đắc mới. Ông là toàn vẹn một nhà văn hiện thực vĩ đại. Mệt mỏi lắm trên đường đời, trên những khổ nạn điêu tàn, buồn, thất vọng, khóc, mở ngẫu nhiên một trang sách của ông ra đọc cũng cảm thấy có cái gì lung linh hiểu biết, như gặp lời của một hiền nhân.

Đọc ông là ngầm trò chuyện với ông. Khi ngầm trò chuyện với ông, ta cảm thấy ở mình có sự soạn sửa để tốt ra. Cái vẻ bình an như khối sắt nguội của ông kiểm soát ta cách nào đó, khiến ta muốn tử tế hơn.

Với tôi, ông là một đại văn hào.

Vâng, với tôi, Ông cũng là một Đại văn hào không thể thay thế!

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Tám 26, 2014 in Nguyễn Huy Thiệp

 

Nhãn:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: