RSS

Sống dễ lắm!

Sống dễ lắm!
Nguyễn Huy Thiệp

Sống dễ lắm

Trường Sư phạm tỉnh miền núi mở lớp tập huấn cho giáo viên vùng cao vào cuối tháng 7. Có 11 người và họ đều là những giáo sinh trẻ lần đầu đi dạy học. Bạn đọc ở đô thị chắc hiểu ít về các trường học vùng cao cách đây ba, bốn mươi năm.Tôi chỉ có thể nói với bạn rằng không ở đâu buồn tẻ hơn và ít vụ lợi hơn ở đấy, còn việc hình dung và dành tình cảm cho nó ra sao tuỳ bạn.
Cuối tháng 7, ở Tây Bắc mưa nhiều và những đợt lũ quét bất ngờ có thể gây nên những tai hoạ không thể lường trước được. Người ta cử ông giáo Chi mang những tài liệu sách vở đến giảng cho lớp tập huấn nhưng trên đường từ tỉnh lị về trường, khi qua suối, ông giáo Chi bị nước cuốn sạch đồ đạc. Mười một giáo sinh ra đón ngài thanh tra giáo dục, họ nửa khóc nửa cười khi thấy một ông già gày gò, mình trần thân trụi ướt như chuột lột đang ngồi rét run cầm cập.
Tất cả những nghi lễ và dự định cho lớp tập huấn giáo dục bỗng vứt đi hết vì lí do bất ngờ, những qui định ứng xử giữa ông giáo Chi và đám trẻ bỗng xoay ra hướng khác hẳn. Ông giáo Chi được các cô con gái thân mật gọi là ” bố ” mặc dầu ông nửa đùa nửa thật nói rằng mình thích được coi là ” bạn thân ” hoặc ” anh giai ” hơn. Các cô con gái trổ tài may vá và ông giáo Chi lập tức có ngay hai bộ quần áo được ” cải tạo ” từ đám quần áo cũ của họ. Hai cậu con trai không tỏ ý thân thiện gì với ” bố “, dưới mắt họ ngài thanh tra giáo dục ” xuống cấp “, trở thành một tay dấm dớ chẳng ra gì.
Tuy nhiên, đúng ngày đúng giờ, lớp tập huấn giáo dục vẫn được bắt đầu như thường lệ, y như qui định của Bộ giáo dục tận mãi Thủ đô. Ông giáo Chi vốn xuất thân là lính, ông coi nhiệm vụ trên hết và không có gì ngăn cản ông làm nhiệm vụ được giao.
Không có giấy bút gì, ông giáo Chi đĩnh đạc đứng lên bục giảng có các cô con gái vây quanh, hai cậu con trai bất đắc dĩ phải ngồi cùng, không phải vì nể ông giáo mà vì nể các cô con gái.
– Dạy học là nghề sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi bắt đầu bài giảng của mình.
– Nếu lương ít, lại không có thực phẩm thì làm sao ? Ở các vùng cao lấy đâu ra chợ ? – Các cô giáo trẻ lần đầu sống xa nhà lo lắng hỏi ông.
– Phải trồng rau chứ ! – ông giáo Chi trả lời. Nuôi lấy vài con gà… Ngày xưa, tớ (ông giáo Chi xưng ” tớ ” chứ không xưng ” bố “)… tớ nuôi cả lợn. Chiều ba mươi Tết thịt lợn, đánh tiết canh… thật không có gì vui như thế… vui như Tết !
– Tất cả là do tự nhiên điều chỉnh hết ! – ông giáo Chi nói – Mình cứ sống thôi ! Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống…Cũng cần phải biết một ít kĩ năng, như cách thiến gà… Phải biết một số cây thuốc cầm máu, biết phân biệt các thứ nấm độc…Tớ có kinh nghiệm không nên tin cái gì đẹp đẽ quá…
Ông giáo Chi đưa bọn trẻ vào rừng, ông chỉ cho họ cách tìm các cây rau ăn được, các cây thuốc, cách tìm phương hướng khi lạc rừng nhờ vào việc xác định rễ ở các gốc cây. Buổi tối, họ ngồi tập hát, ông giáo Chi dạy họ bài hát về nghề dạy học :
” Tôi không quên những giờ lên lớp đầu tiên Khi bước về ngôi trường xa Trang sách trắng tinh Với nét phấn đơn sơ vụng về đừng hỏi vì sao tôi yêu dấu… ”
– Dạy học không có gì khó cả ! Sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi lại nói – Mình cứ hình dung mình là đứa bé, đứa bé cần gì thì dạy thứ ấy… đừng dạy nó thứ không cần…
– Sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi lại nói – Giáo dục… nghĩa là tha bổng… Hễ có tội là tha… trẻ con không có tội gì… Sống nghĩa là sai lầm, là mắc tội… Mình phải yêu mạng sống của chúng như yêu mạng sống của mình…
– Thế còn tình yêu ? – Những cô gái trẻ náo nức hỏi.
– Tớ không biết… – ông giáo Chi lúng túng trả lời – Nhưng có sự hi sinh… nghĩa là cay đắng…Tình yêu là mang cho nhau lời nguyện cầu tốt đẹp, những cử chỉ thân tình âu yếm, dục vọng, lòng ham sống… tóm lại là cảm giác…
– Nói dối ! – Một trong hai cậu con trai sầm mặt lại, chửi thề rồi nói khẽ qua kẽ răng. Đấy là Dân, tay thanh niên sinh ra ở thành phố – Nó hơn thế nhiều…
– Cậu thì bao giờ cũng coi cậu đúng còn mọi người là dối trá hết ! – Ông giáo Chi buồn bã nói – Cậu không dạy học được.Cậu chỉ đi chiếm đoạt và áp chế người…Cậu giống ” sếp ” của tôi.
– Để xem – Anh chàng Dân trả lời – Nhưng dạy học đâu có phải là nghề tốt nhất trên đời phải không ?
– Tớ không biết ! – Ông giáo Chi thừa nhận – Có lẽ thế thật !
– Nhưng chúng ta đang nói chuyện về tình yêu cơ mà ? – Các cô giáo trẻ vẫn không bằng lòng với cách giải thích của ông giáo Chi.
– Hỏi làm gì ? Rồi trước sau ai cũng biết hết… – Cậu con trai tên là Hiếu bẽn lẽn chen vào. Khác với Dân, anh chàng Hiếu là một thanh niên nông thôn rụt rè.
– Đúng đấy ! Trước sau gì ai cũng biết hết… Rồi sẽ được ăn đòn cả thôi ! Đừng có vội ! Đừng có sốt ruột ! – Anh chàng Dân nói xong thì cười nửa miệng.
Các cô gái trẻ đòi ông giáo Chi kể về tình yêu. Ông giáo Chi từ chối mãi không được, cuối cùng ông đành nói :
– Có lẽ tớ đã yêu rất sớm… – Ông giáo Chi đỏ mặt thú nhận – Từ khi tớ còn là học trò…Mà người tớ yêu lại là cô giáo. Cô giáo đi vào lớp, tớ ngắm nghía như muốn nuốt chửng cô ta. Sau này tớ rất xấu hổ, rất ân hận…
Hai cậu con trai tỏ vẻ khinh bỉ đứng lên bỏ ra khỏi lớp. Ông giáo Chi ngồi im. Ông biết ông đã dại dột nói ra điều không nên nói. Ông là một nhà giáo dục thất bại. Các cô gái an ủi ông :
– Bố lại bịa, phải không ? Sao bố lại đi bịa như thế để cho người ta coi thường bố ? Chúng con biết bố có một tình yêu cao thượng, có phải không ?
– Ừ ừ… – Ông giáo Chi trả lời – Cao thượng… riêng tư… nhưng tớ có lỗi… tớ ích kỉ… mà lại hèn…Cô ấy là người rất kiên nhẫn mà cuối cùng cũng phải chán tớ.
– Cũng tại bọn đàn bà hay đòi hỏi cơ ! – Các cô gái than thở – Người ta vẫn nói đàn bà với tiểu nhân là một…
– Không phải thế đâu… – Ông giáo Chi cười đau đớn – Đấy là Khổng Tử. Ông ấy là tay say mê chính trị, hắn không có tình yêu, hắn yêu lễ hơn cả tình yêu… mà tình yêu là thứ vô lễ nhất. Tình yêu rốt ráo thậm chí còn là vô luân…
– Thế cũng phải dạy cho bọn trẻ con những điều như thế phải không ? – Các cô gái lại hỏi.
– Phải dạy chứ ! – Ông giáo Chi nói – Nhưng tốt nhất cứ để tự nhiên điều chỉnh là hơn… Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống.Có điều phải trung thành với công việc… Đừng có như hai thằng trời đánh kia ! Tớ thề rằng chúng nó sẽ phản bội nghề dạy học. Cô nào yêu chúng rồi sẽ đau khổ… Chúng nó thì có dạy ai ?Bọn đàn ông, tớ biết rất rõ… Một phần cũng bởi tại giới nữ các cô kích động nữa cơ, chúng nó là bọn láo khoét, không có phúc đức gì đâu… ” Phúc đức tại mẫu “, đã hiểu chưa ? Không hiểu thì rồi sẽ hiểu.
Trong lớp học có Mạ là cô gái mà ông giáo Chi yêu mến nhất. Cô gái nhà nghèo, bỏ quê lên vùng cao dạy học, lúc nào cũng nhường nhịn mọi người, lúc nào cũng tranh làm những việc nặng. Mạ ít tuổi nhất lớp nhưng cô lại có vẻ đàn chị nhất lớp. Sớm mồ côi, phải nuôi hai em nhỏ nên Mạ sớm tháo vát hơn người.
– Con ạ… Sao mày cứ đi làm tranh việc của người khác như thế ? – Ông giáo Chi hỏi cô.
– Con không biết… tại số con nó thế…
– Thôi cũng được… – Ông giáo Chi ngậm ngùi thở dài – Nhưng cũng phải thương lấy thân mình.Thương người là rồi rước hoạ vào thân…
Cứ như thế, từng ngày một, trong nửa tháng trời ông giáo Chi truyền cho đám giáo sinh trẻ những kinh nghiệm, những nguyên tắc sơ khai về giáo dục theo cách của ông. Ông đã từng sống một mình trong gian khó, phải đấu tranh với cái đói, sự hiểm nguy. Ông là giáo viên tiểu học, một viên chức thấp nhất trong ngành giáo dục, ông rất dễ bị tổn thương, rất dễ bị người khác sỉ nhục hoặc coi thường, ông nói ra những kinh nghiệm của ông để bảo vệ thân phận, bảo vệ miếng ăn cũng như nhân cách của ông. Đơn giản mà kiên quyết, không có chút gì khoa trương và khoan nhượng hết.
– Không nên tin ai ! Sống dễ lắm ! Trong gian khó mà tin người là chết ! Tất cả mọi người có khả năng phản bội, kể cả phản bội những đức tính cao quí nhất, vì thế mới có cái chết chứ… Chỉ có một sự bất tử duy nhất là huyền thoại… trong huyền thoại thì tình yêu là thứ huyền thoại vĩ đại và cay đắng nhất…
Khi lớp học tan thì mọi người đã thân thiết với nhau lắm, thậm chí anh chàng Dân còn khoe rằng đã hôn được tất cả các cô gái ở trong lớp học. Họ ghi vào sổ tay của nhau những lời chúc tụng tốt đẹp, những bài thơ… Các cô con gái chép cho nhau cả những bài hát để khi về trường dạy lũ trẻ con… Rồi khóc lóc… Rồi chia tay… Rồi tiễn nhau ra bờ suối. những cánh chim bay đi. Vùng cao xa mờ trong mây núi. Các thày cô giáo trẻ tuổi bịn rịn lên đường, vừa háo hức, vừa sợ hãi, cả vui với buồn lẫn lộn. Ông giáo Chi lội suối trở lại tỉnh lị báo cáo với trên về việc mở lớp ” tập huấn ” của mình.
– Không có tài liệu ! Không có sách vở ! Không có chương trình ! Mình trần thân trụi ! Thế ông làm những trò gì cho những giáo sinh ở vùng cao ấy ? – Người ta hỏi ông.
– Tôi nhen lửa… nghĩa là thổi vào lòng họ vài ngọn gió… Tôi bảo họ sống dễ lắm ! Chỉ có thế thôi !
Người ta cười phá lên :
– Ngọn gió ! Thật là đồ ngu ! Đồ dối trá ! Sống dễ lắm ! Ông đã làm hỏng toàn bộ phương pháp. Rồi ông sẽ biết thế nào là sống dễ lắm !
Ông giáo Chi bị cách chức, bị chuyển đi làm việc khác. Người ta bảo ông :
– Mắt xích giáo dục, ông già ạ, trong chuỗi mắt xích giáo dục thì ông đã làm cho mắt xích vùng cao mất toi, chẳng ra cái gì…
Ông giáo Chi ngậm ngùi xếp đồ đạc vào chiếc ba lô bạc màu ngày trước của ông. Người lính già cảm thấy lòng mình tan nát. Ông đành thôi việc về quê. Sống dễ lắm chẳng phải là một câu nói đùa cửa miệng cho vui sao ? Vùng cao xa xôi trong ông chỉ còn mơ hồ là những đám mây trắng trong dãy núi xa xôi, tiếng cười vô tư lự của đám giáo sinh trẻ tuổi, hình ảnh cô bé Mạ năm nào, cái cô giáo cấp một chịu thương chịu khó có thân hình gầy gò bé nhỏ trông chẳng khác gì một đứa trẻ chăn trâu ở trong xóm núi…
Ba mươi năm sau, ông giáo Chi khi ấy đã thành một ông lão quá tuổi ” thất thập cổ lai hi ” chỉ loanh quanh nơi vườn nhà. Một hôm ông có khách, khách là hai mẹ con nhà kia từ nơi xa xôi đến chơi. Chưa bao giờ ông vui như thế : cô giáo Mạ ngày nào đưa con gái về thành phố đi thi đại học ghé lại thăm thày giáo cũ.
Ông giáo Chi cười không thành tiếng :
– Thế nào ? Vẫn còn nhớ ta ư con ? Sống dễ hay khó hả con ?
Cô giáo Mạ vừa lôi trong túi xách ra những gói quà đặt lên mặt bàn vừa cười :
– Kể cũng thất điên bát đảo nhưng xét cho cùng thì sống dễ lắm ! Bố có nhớ không ? Lớp học ngày ấy có 11 người… chết mất một nửa rồi… Ông Dân bây giờ lên chức to lắm nhưng không còn làm trong ngành giáo dục. Ông Hiếu nghiện nặng, nghiện thuốc phiện, bị đuổi khỏi ngành vì đi sàm sỡ với cả học trò…
– Tớ biết ngay mà ! – Ông giáo Chi than thở – Thằng Dân tham vọng quá, nghề dạy học là nghề quá bé nhỏ với nó. Những tên lưu manh bao giờ cũng phải khua khoắng ở nơi đất rộng có người chen chúc. Thằng Hiếu thì tình cảm quá, không thắng được những bản năng…Chà ! Lũ đàn ông ! Thày bậy thày bạ ! Phúc đức gì lũ chúng mày !
Ông giáo Chi khổ sở, bận rộn với những ý nghĩ trong đầu y như trước mặt ông đang có 11 đứa con giống như ở trên lớp học vùng cao ngày nào.Ông mỉm cười với người học trò mà ông yêu mến nhất, đứa con gái trung thành của ông :
– Hãy kể chuyện đi, con gái… Sống dễ là như thế nào ?
– Cũng đói… Cũng rét… Cũng khổ đủ đường nhưng rồi cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống…
– Thế những đứa khác thế nào ?
– Cũng thế…Bố còn nhớ con bé Thảo không ?
– Cái con bé trắng trẻo, vẫn hay nói lắp chứ gì ?
– Đúng rồi ! Nó yêu ông Dân…Tình yêu đơn phương… Nó bỏ vào rừng, nó cứ đi mãi, nó sa vào tổ ong đất rồi chết. Chỗ ấy mặt đất rất sạch, lại rất phẳng phiu, bên trên không có một ngọn cỏ nào… Cái hố toàn ong là ong sâu hơn bốn mét…
– Khổ ! đã bảo không được tin vào cái gì sạch sẽ cơ mà ! – Ông giáo Chi rên rỉ, nước mắt ròng ròng – Cái con bé xinh thế ! Thật tội nghiệp ! Thế bây giờ mộ nó ở đâu ?
– Vẫn ở trên ấy, bố ạ… Bố còn nhớ dãy núi Đầu Hổ không ? Nó nằm ở đấy 30 năm rồi…
– Thế những đứa khác thế nào ?
Cô giáo Mạ ngồi im một lát như muốn nhớ lại từng người bạn cũ ngày xưa, cô nói :
– Được cái không ai bỏ nghề dạy học… Nhưng hễ đứa nào dính đến yêu đương là chết… Khổ thế đấy ! Đứa nào an phận thủ thường thì cũng vung vinh hơn người…
– Ta đã bảo mà ! – Ông giáo Chi gật đầu – Cứ để cho tự nhiên điều chỉnh là hơn ! Cứ mơ mộng hão huyền là chết… Đừng có lãng mạn viển vông gì cả… Thế còn con ? Con gái của con năm nay thi vào đại học ? Thế bố nó đâu ? Bố nó làm gì ?
Cô giáo Mạ đưa mắt nhìn cô con gái.Cô con gái biết ý bẽn lẽn đi ra ngoài sân.
– Bố nó ngày xưa cũng là thanh tra giáo dục – Cô giáo Mạ thì thào – Anh ấy đi về trường con có mỗi một lần… cũng y như bố, buồn cười, mình trần thân trụi…
Ông giáo Chi cảm thấy nghẹt thở, nước mắt chảy ra ràn rụa. Ông cười không thành tiếng :
– Ừ… Vậy nó là thanh tra giáo dục…Thế nó nói gì ?
– Không nói gì cả…
– Thằng ông mãnh ! Thế là nó khôn…
– Được cái thật thà…Mà khoẻ lắm ! Cứ như lực điền…
– Đúng rồi…Tất cả là ở cảm giác…
– Hồi ấy mùa thu…Hoa cúc nở vàng như mê như man trong thung lũng. Mật ong thì nhiều vô kể… Lũ học trò mang đến cho con bao nhiêu là hoa với mật ong…
– Ừ ừ… ta hiểu… Thế cũng xơi chứ ?
– Vâng… Ăn tham không tưởng tượng được. Toàn mật ong rừng thuộc loại ác chiến…
– Có phải nó đặc sánh mà lại vàng như ánh nắng ở dưới mặt trời phải không ?
– Vâng… vàng như hổ phách… Mà trong suốt.
Cô giáo Mạ ngồi lặng im một lát không nói năng gì. Mãi lúc sau ông giáo Chi mới húng hắng ho. Ông nói nho nhỏ :
– Ở vùng cao ấy, con ạ, không khí rất sạch, rất tốt cho trẻ con đấy !
Cô giáo Mạ như bừng chợt tỉnh, mỉm cười :
– Vâng… được cái không khí thì sạch lắm. Hồi đẻ con bé, con tự làm lấy hết… tự cắt rốn cho nó, tự may vá lấy…
– Thế lúc ấy không có ai à ?
– Không có ai… May mà cũng không nhiễm trùng… Hôm ấy trời mưa rất to…
Ông giáo Chi đỡ lấy chén nước mà cô giáo Mạ vừa rót cho ông, ông nói :
– Con bé của con xinh lắm ? Thế nó ngoan chứ ? Có hiếu chứ ?
– Vâng… Được cái cháu nó cũng ngoan, cũng biết thương mẹ. Con nghĩ thi được đại học thì thi, không được thì thôi…
– Ừ… phải nói với nó là sống dễ lắm… đừng làm nó sợ…
– Con hiểu… – Cô giáo Mạ tần ngần nhìn ông giáo Chi, tự dưng nước mắt ứa ra – Bố già rồi… Thế bố có còn nhớ gì về những nơi ở ngày xưa của bố hay không ?
Ông giáo Chi gật đầu, ông nói rất khẽ cứ như là ông tự nói để cho mình nghe :
– Có… nhớ chứ ! Toàn núi là núi nhỉ ? Mà toàn núi xanh mây trắng…
Một lúc sau, hai mẹ con cô giáo Mạ từ biệt ông giáo Chi để trở về nhà, trở về trường học cũ của họ. Giống như ngày xưa : lại nước mắt, những lời li biệt…
Ông giáo Chi tiễn người học trò rồi mà cứ thẫn thờ tần ngần đến suốt mấy tiếng đồng hồ. Hôm sau, hôm sau nữa ông cứ lơ lửng như người mất hồn. Nhiều lúc, ông giáo Chi bỗng thấy người mình tựa như nhẹ bỗng, nhẹ đến nỗi tưởng như có thể bay lên được kia ! Chao ôi ! Ước gì ông có thể bay lên trời được ! Như những ngọn gió ! Nếu bay lên được thì ông sẽ bay đến những dãy núi xanh xa xôi tít tắp kia, nơi ấy lẩn khuất trong mây trắng và sương mù, nơi ấy không khí rất sạch và khoáng đạt, nơi mà hoa cúc dại nở vàng rực rỡ như mê như man đầy trong những thung lũng hoang vắng không có một bóng người nào.
Phải ! Điều cốt nhất là phải không có một bóng người nào ! Như thế thì sống dễ lắm ! Nhất định rồi ông sẽ về đấy mà ! Ông sẽ về đấy… Ông nghĩ như thế ? Cho ngày mai…Mai…
Hà Nội, tháng 12.1999

Advertisements
 
 

Nhãn: ,

Chúc tết xuân Đinh Dậu

Chúc tết xuân Đinh Dậu 2017

ga-thu-hung

Xuân mới Đinh Dậu năm con gà,

Chúc mọi người nhiều sức khỏe nha!

Công việc hanh thông, nhiều khai phá,

Phấn khởi suốt ngày hát lá la.

 

Quân tử, rõ ràng như gà trống,

Bao nhiêu việc khó chẳng nề hà,

Viber, email luôn cập nhật,

Đêm muộn vợ/ck mắng vẫn cười khà,

Quán triệt tinh thần luôn đúng hẹn,

Đánh giá lúc nào cũng đạt A.

 

Làm thì chăm chỉ như gà bới,

Chơi thì cũng phải đủ hát ca,

Gà bò trâu chó ăn đủ cả,

Bia cùng với rượu, có cả hoa

Năm mới thêm nhiều niềm vui mới,

Tình cảm anh em vẫn mặn mà !

Xuân nay đang đến với mọi nhà

Chúc mọi người nhiều Hạnh Phúc nha,

Lộc biếc, xuân tươi khoe áo mới,

Thăm nhau, ai cũng có nhiều quà…

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 25, 2017 in Lưu

 

Nhãn: ,

Mưa…

Mưa…
Nguyễn Huy Thiệp

MƯA

Phong vận kỳ oan ngã tự cư(1) (Nguyễn Du) (1)

Ta tự coi mình như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã.

Em, Anh bắt đầu truyện ngắn này lúc 8 giờ sáng trong một quán cà phê tồi tệ nhất thành phố. Quán vắng khách, không ai quấy rầy anh. Trời đang mưa.
Anh ngồi viết… Khuôn mặt em hiện ra trong anh. Em đang ở xa. Em đang ở đâu? Những ý nghĩ của anh hướng cả về em. Em hiển hiện. Em ngồi bên cạnh và sắp xếp những con chữ rời rạc.
Hôm ấy trời cũng mưa, mưa như trút. Anh và em ngồi trong xó tối. Trước mặt chúng ta có hai phụ nữ, một người thấp, một người cao, cả hai đều đẹp. Anh nhắc em chú ý đến cô gái cao, để tóc xõa, mỗi khi cười lại hay ngả người vào ghế. Em hỏi anh tên người ấy. Anh bảo: “Gọi gì mà chẳng được! Tên người cũng là một thứ ký hiệu thôi. Anh gọi cô ta là N.” Em bảo: “Thế người ngồi cạnh là M. à ?” Anh bảo: “Phải.
– Mình biết không? – M. nói – Mình chẳng hiểu gì về hắn. Đời mình sẽ tan nát vì hắn mất thôi. Tớ van mình, mình đừng yêu hắn!
– Không, tớ chẳng yêu đâu. Tớ chẳng dại… – N. cầm một bông hoa trên bàn xé nhỏ. – Nhưng hắn hiền lành và thông minh lắm. Gần hắn, tớ sẽ học được cái gì chăng?.
– Với bọn đàn ông thì người phụ nữ chẳng học được cái gì đâu. Chúng chỉ chăm chăm một việc là đè mình ra giường rồi tỷ tê những lời đường mật. Chúng mình tưởng bở, chúng mình tưởng đấy là tình yêu, là tính người. Thế là hết đời!
– Sao mình ác khẩu thế? – N. thở dài. Họ yên lặng một lúc. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
N. nói:
– Hắn đọc thơ, bằng một giọng trầm, hay không tả được.
– Lại thơ nữa! Thằng đàn ông nào khi quyến rũ đàn bà mà chẳng làm thơ? Chúng làm thơ suốt từ thời người vượn nguyên thủy đến nay, được những bốn nghìn năm rồi.
– Mình hôm nay thế nào ấy. Thế mình lấy chồng, mình có hạnh phúc không?
– ừ, ừm… không biết. Nhưng mà chắc có đấy. Có điều tay chồng tớ đểu kinh khủng. Tớ biết hắn lừa tất cả mọi người. Thế mà trước khi lấy hắn, không hiểu sao tớ thấy hắn cao thượng thế!
N. cười khẽ. Khi cười, mái tóc xõa ở bên thành ghế.
– Mình cho tớ xin một điếu thuốc lá. Từ khi lấy chồng, tớ phải hút trộm… Chồng tớ thấy, hắn sẽ đánh tớ.
– Tại mình cả thôi. Tớ đã bảo đấy là một thằng đàn ông đê tiện cơ mà!
– Tớ rất ghét chồng mình, tớ chưa bao giờ thấy chồng mình nói thật bao giờ. Thôi, số kiếp cả. Làm sao được? Thân tớ thế là coi như xong rồi đấy. Rồi tớ sẽ đẻ con, vào bệnh viện, không hiểu sao tớ nghĩ sau này tớ sẽ bị liệt, thế là hết đời. Nhưng mà mình, tớ van mình, mình đừng yêu hắn!
– Không, tớ chẳng yêu đâu. Tớ chẳng dại…
– Mình thề đi. Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn!
Em hỏi: “Sao thế nhỉ? Sao người ta lại đi can gián tình yêu?”

Anh bảo: “Em đừng sốt ruột. Một người đáng kể thế kia thì chẳng bao giờ thề thốt gì đâu.
M. ngồi hút thuốc. ánh lửa ở đầu điếu thuốc đỏ rực.
– Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn. Mình thề đi!
– Không! Mình đừng bắt tớ thề. Buồn cười lắm!.
– Mình có hiểu một người như hắn tệ hại đến thế nào không? Hắn thích gì hắn sẽ làm nấy. Hắn có thể đánh nhau đấy!
– ừ…
– Tớ đã biết hắn. Hắn rết khinh người. Một người như thế là không tôn trọng ai đâu.
– Nhưng hắn đối xử với tớ rất tốt… Dễ thương nữa.
– Mình chẳng hiểu gì cả! Ai mà hắn chẳng tốt! Hắn bịp bợm đấy! Hắn chẳng coi cuộc sống ra gì. Mình có thấy cách chi tiêu của hắn không? Nếu có một quốc gia trong tay thì hắn cũng chỉ chi tiêu trong năm phút.
– Thơ của hắn lạ lắm!
– Lại thơ! Mình cứ mơ mộng thế là chết đấy! Hắn ham chơi lắm, mình đã thấy hắn đá cầu với một thằng bé con sáu tiếng đồng hồ! Mình cứ tưởng tượng xem, sáu tiếng đồng hồ người ta làm được bao nhiêu là việc!

– Ngộ nhỉ?
– Ngộ gì mà ngộ? Có mà điên!
Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.

– Tớ van mình. Mình cẩn thận đấy! Mình có hiểu tình yêu của một tay đàn ông như thế thì thế nào không?
– Không… Tớ biết sao được.
– Nó sẽ làm lòng dạ mình tan nát như chơi…
– Mình chẳng hiểu gì cả… Hắn chỉ làm mọi việc theo ý hắn thích mà thôi. Khi hắn yêu hắn sẽ quên hết… Mà như thế thì khổ lắm… mà ngượng lắm!
– Sao lại ngượng?
– Thế mình chỉ sống có mỗi một mình thôi à? Mình còn có bạn bè, bố mẹ, lại còn bà, rồi còn sự nghiệp nữa.
– ừ, bà thì rắc rối lắm!
– Chứ còn gì nữa? Hắn sẽ gạt tất cả sang bên. Hắn sẽ cười vào mũi tất cả, cười rất khả ố… – – Hắn chẳng coi mọi sự là cái gì đâu! Tớ cấm mình yêu hắn đấy!
– Ừ!
– Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Thơ của hắn rất lạ… chẳng có đầu có cuối gì cả. Này nhé:
“         Chính bi thế mà na đêm ta dy

Lang thang khp ph phường.”

– Bởi cái gì?
– Ma nào mà biết được? Tớ cũng hỏi hắn thế…Hắn cười, hắn cũng không biết nốt. Hắn chỉ lên trời…
– Lại thế nữa… Thế là điên rồi đấy!
– Mà còn thế này nữa:
“Ta nhổ một cái lông chân

Đem so xem nó có giống lông trâu không?
Ta ký một hợp đồng

Và ra sức lùa gió về

Trong căn phòng trống trải của ta…””

  1. nhỏm người lên:
    – Ký hợp đồng với ma quỷ đấy! Chắc chắn thế! Tớ biết mà… Hắn không chơi với người đâu, hắn chỉ chơi với ma quỷ thôi…
    – Hắn có thể chết bởi những điều rất vớ vẩn… Mà hắn cả tin lạ lùng.
    – Thôi đi… Tớ van mình. Mình đừng mơ mộng nữa. Cả tin với không cả tin. Tất cả đều một giuộc!
    – Quả thực, tớ chưa thấy người nào đáng kể như hắn. Hết sức nồng nhiệt, tối tăm như đêm tối, lại chính trực nữa…
    – Mình yếu đuối lắm!
    Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.

– Này, tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Ừ…

Em hỏi: “Tình yêu là gì?”

Anh bảo: “Đây là nét phong nhã bậc nhất của đức hạnh. Không phải người nào cũng hiểu được đâu .

Em hỏi: “Sao khi yêu nhau người ta hay làm thơ?”

Anh bảo: “Tình yêu sinh ra tài năng. Thơ là thứ tài năng tầm thường nhất.”

Em bảo: “Tài năng nào mà chẳng tầm thường…”

Anh bảo: “Có một thứ tài năng không tầm thường.

Em hỏi: “Anhbiết à? Anh bảo: “Biết!

Em hỏi: “Anh có nó không?” Anh bảo: “Có!  Em bảo: “Thế thì em yêu anh!
– Này, tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– ừ…
– Để tớ kể mình nghe chuyện này. Ngày xưa hắn đã yêu một thiếu nữ. Cô ấy con nhà gia giáo. Mình có biết một thiếu nữ trinh thục là thế nào không? Môi cô ta lúc nào cũng thắm đỏ. Đáy mắt cô ta ánh xanh như vỏ trứng chim sáo. Cô ta được nuôi dưỡng bằng truyện cổ tích và toàn cơm tám giò chả. Một thiếu nữ được nuôi như thế thì da trắng hồng.

– Thôi, mình bỏ trò miêu tả ấy đi. Khó chịu lắm. Một thiếu nữ trinh thục là rất khó chịu…
– ừ, thật thế đấy. Hắn đến… liệu hắn có biết thứ quà tặng gì đối với cô ta có thể làm chết người như là tình yêu của hắn hay không? Tớ cũng tin hắn yêu say đắm. Một cô gái như thế thì sao lại không yêu được? Có thể khi đến với cô ta, lòng hắn sẽ yên tĩnh lại, sẽ không sôi réo nữa. Hắn sẽ tu thân, hắn không du côn và lêu lổng nữa. M. im lặng, cô ta lại châm một điếu thuốc lá. Ánh lửa ở đầu điếu thuốc đỏ rực. Nghe rõ tiếng mưa rơi…

Thế… Không thể nói rằng hắn là kẻ vô giáo dục được. Hắn chỉ hơi dám đến gần cô ta. Không phải là hắn yêu đâu, hắn chiêm ngưỡng, hắn thờ phụng cô ta như thể người ta thờ phụng Đức thánh Trần.
– Sao lại Đức thánh Trần?
Tại vì đây là thứ tình yêu chẳng có hôn hít gì cả. Chỉ có tình yêu với Đức thánh Trần mới như thế chứ…
– ừ. Tớ hiểu rồi. Kể cũng kỳ lạ đấy. Hình như bây giờ hắn đã bạo hơn…
– Mình im đi. Tớ van mình, mình không được nghĩ gì về hắn nữa đấy.
– ừ – Thế… hắn với cô ta như thể hai người trong mộng. Cô ta héo hắt đi vì hắn. Mình tưởng tượng xem… Một cô gái mới lớn, lần đầu tiên biết yêu. Còn hắn, một con dê xồm mồ hôi dẩu, cười nói thản nhiên như côn đồ. Hắn có thể trồng èây chuối trước mặt bố mẹ cô ta. Bố cô ta là một trí thức, ông treo ảnh danh nhân trên tường, yêu thích văn học cổ điển, nhạc cổ điển và chính trị cổ điển. Còn hắn, hắn biểu diễn âm nhạc bằng cách thọc hai ngón tay vàò miệng…
– Ngộ nhỉ?
– Ngộ gì mà ngộ… Hắn bắt một con thạch sùng rồi để lên bàn. Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng ấy. Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức.
Hắn cho rằng đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất…
– Thật quá quắt!
– Đấy mình bảo như thế thì ai chịu được.
– Không chịu được thật…
– Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn!
– Được rồi.: Thế tình yêu của hắn với cô gái kia thế nào?
– Hắn quyến rũ cô ta, hay là cô ta quyến rũ hắn… Cũng chẳng biết được. Họ say mê, quyến luyến nhau… Xa cô ta một ngày là hắn gây sự. Kể ra cũng không thể phàn nàn gì về một tình yêu như thế. Quả thực, nếu đấy không gọi là tình yêu thì tớ cũng không biết thế nào là tình yêu nữa…
– Tớ hiểu rồi… Tớ biết rất rõ.
Mình lại nghĩ đến hắn phải không? Tớ cấm đấy. Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Ừ. Mình kể tiếp đi.
M. lại hút thuốc. Im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
Em hỏi: Cuộc sống cơ bản là buồn, phải thế không?

Anh bảo: Không có tình yêu buồn.

Em hỏi: Anh này, hai cô gái kia thì ai hạnh phúc?

Anh bảo: Một cố vừa đánh buột mất hạnh phúc. Còn cô kia đang có hạnh phúc trong tay, nhưng không khéo cũng đánh vuột mất!”

  1. kể tiếp:
    – Họ yêu nhau. Hắn đính hôn với cô ta. Mọi người ngăn cản. Hắn khuyên cô ta trốn…
    – Trốn đi đâu?
    – Chắc là phải trốn đến nơi nào thật lạc hậu.
    – Sao thế – Thì những nơi văn mình ai chứa được một người như hắn? Không có gì với hắn là quá cao, cũng chẳng có gì với hắn là quá thấp…
    – Họ trốn chứ?
    – Đúng vào phút cuối cùng thì họ từ bỏ ý định, tử bỏ lời thề.
    – Khốn kiếp?
    – Ừ – Hắn có quay lại không?
    – Một người như hắn thì đời nào quay lại?
    Lòng cao thượng của hắn là lòng cao thượng của quỷ chứ đâu phải của người! Hắn biết rằng chỉ vì một cô gái thì không đáng để hắn hi sinh cuộc đời, dù rằng đấy là một cô gái trinh thục, môi lúc nào cũng đỏ thắm, da trắng hồng…
    Hắn đi luôn à?
    – Phải! Hắn đi luôn… mất tăm mất tích. Hắn đặc biệt nhạy cảm với sự nhục mạ…
    – Sau dó thì sao?
    – Cô ta ốm lăn lóc nhưng không chịu uống thứ thuốc hắn gửi đến, thuốc mà làm gì… Thời gian trôi đi. Cô ta bắt đầu tiêu phí dời mình. Cô ta hiểu rằng không có một người đàn ông thứ hai như thế…
    Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi. – Này… Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn. Hắn không có lòng đại lượng. Hắn không tha thứ cho ai… Mình, mình đừng yêu hắn. Hắn là quỷ sứ!
    N. lục lọi đâu đó trong túi rồi đặt lên bàn một tấm ảnh nhỏ.
    – Ảnh hắn đấy…
    – Mình… tớ van mình… Mình đừng yêu hắn.
    Mình hãy đốt tấm ảnh ấy đi… Hãy xé đi…
    – Mình…
    – Không! Phải tự tay mình! Mình xé nó đi!
    N. cầm bức ảnh trên bàn lặng lẽ xé nhỏ.
    Chớp lóe sáng. Có tiếng sấm rền. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
    – Khốn nạn!
    Mình bảo ai khốn nạn?
    – Mình không hiểu đâu… Mình không biết rằng sau mối tình ấy cuộc đời trở nên khốn nạn thế nào?
    – Cô ta còn sống à?
    – Không, cô ta chết rồi! Tâm hồn cô ta chết rồi. Cô ta chỉ còn hình hài. Cô ta thành kẻ đê tiện. Cô ta lấy chồng. Chồng cô ta cũng đê tiện nốt. Hắn ăn cắp rất giỏi. Hắn đánh cô ta mỗi khi cô ta hút thuốc.
    – Tớ không hiểu… Thế là thế nào?
    Mình… Tớ xin lỗi mình… Mình đã xé tấm ảnh đi rồi… Mình đã làm điều mà tớ mong muốn… Họ ngồi yên lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi. Bỗng nhiên cả hai khóc òa. M. nói, giọng đầm nước mắt:
    – Tớ xin lỗi mình… Thế mình tưởng tớ tha thứ cho mình vì mlnh xé tấm ảnh đi ư?
    – Mình… mình sao thế?
    – Mình chẳng hiểu gì cả? Mình tưởng tớ kể như vậy là lòng tớ thư thái hay sao? Sẽ thanh thản hay sao? Mình không biết tớ đã rứt từ tim tớ từng mảnh thịt một…
    – Mình… mình… Sao thế mình…
    – Mình tưởng tớ sẽ tha thứ cho mình vì mình độc ác thế à? Không, mình hiểu không? Nếu cần, tớ sẽ bỏ chồng, bỏ hết để đi theo hắn. Hắn vào tù thì tớ đưa cơm. Tớ sẽ theo hắn cùng trời cuối đất… Chỉ cần hắn quay lại… Nhưng hắn sẽ không bao giờ quay lại.
    – Giời ạ. Sao mình lại kể, sao mình lại kể?
    – Vì sao ư? Vì tớ không muốn… Mình hiểu không, tớ không muốn hắn rơi vào tay một người đàn bà nào khác, rơi vào tay mình.
    N. đứng dậy đi ra ngoài trời. Một lúc sau, M. cũng đi ra nốt. Nghe rõ tiếng mưa rơi. Tiếng mưa rơi buồn không tả được.
    Em hỏi anh: “Cuộc sống cơ bản là buồn phải thế không?” Anh bảo: “Không”. Em hỏi: “Người đàn ông mà hai người nói chuyện ấy là ai?” Anh bảo: Không biết.
    Em hỏi: “Là công nhân, nông dân hay thợ thủ công?” Anh bảo: “Không biết. Em bảo: “Chắc là nghệ sĩ. Vì cô ta có đọc thơ”. Anh bảo: “Thơ gì lại thế? Em có muốn nghe thơ anh không? Thơ của anh cũng có nhổ lông.” Em bảo: “Thôi, để khi khác. Nhưng em áy náy quá, không biết hắn là ai.“ Em bảo: Em thấy cô ta cầm tấm ảnh in trên tờ báo. Chắc là một nhà chính trị”. Anh bảo: Không biết”. Em bảo: Hắn thật đáng kể.
    Mưa.
    Ngoài trời kia vẫn mưa. Khuôn mặt em hiện ra trong anh. Em đang ở xa. em ở đâu? Những ý nghĩa của anh hướng cả về em. Bây giờ là 2 giờ chiều. Anh đã ngồi viết truyện ngắn này sáu tiếng đồng hồ. Sáu tiếng đồng hồ liền.
    Sáu tiếng đồng hồ. Nhân vật chính trong truyện của anh đá cầu sáu tiếng đồng hồ. Cái thằng vô lại ấy! Một tên cao cầu bất hủ!
    Em ở đâu?
    Ngoài kia trời mưa. Bao giờ thì em về? Hả em?

Post lại vào một ngày mưa dài, rỉ rắc…11.1.17

 
 

Nhãn: ,

Đất nước của những thằng lười…

Đất nước của những thằng lười…

Đất nước của những kẻ lười biếng

Đây là một bài viết tôi sưu tầm được, nhưng tôi phải nói trước với bạn đọc là ngôn từ của nó không hề ngọt tai, nếu bạn chưa sẵn sàng nhìn nhận thực tại bản thân hay thế hệ, có lẽ bạn sẽ thấy một chút khó chịu khi đọc.

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Bạn có biết lý do chính dẫn tới việc nước Việt ngày càng sa sút? Câu trả lời là: LƯỜI!

Người ta cứ đang kéo cố gắng đất nước này đi lên. Hàng loạt bài báo được viết nên. Trong đó chỉ ra rằng đất nước này đang bị ô nhiễm hóa, đang bị bóc lột hóa, đang bị bất công hóa, và đang bị căng thẳng hóa… Nhưng rồi các bạn biết được điều gì là quan trọng? Ừ, CHẲNG AI THÈM ĐỌC NHỮNG BÀI BÁO ĐÓ. Nghĩa là người ta không biết chuyện gì đang xảy ra chung quanh họ, không biết được mức độ căng thẳng leo thang của thế giới xung quanh. Tóm lại là, người viết thì cứ viết, người chơi thì cứ chơi, không ai thèm đọc. Dĩ nhiên là ta đang nói đến số đông thôi.

Vậy ra, người ta đang cố gắng thay đổi mọi thứ ở phần ngọn. Nghĩa là kêu gọi những con người đã góp sức gây nên hiện trạng này, hãy thôi đừng phá hủy đất nước nữa, hãy thôi xả rác, hãy thôi chém giết. Đó là một ý tưởng điên rồ. Kêu gọi người từng sát hại đất nước này hãy suy nghĩ lại, rũ chút lòng thương, đừng phá hoại nữa.

Bạn biết vì sao mà đất nước này cứ thụt lùi, thậm chí bây giờ thua cả Lào và Campuchia không? Nếu bạn định trả lời là chính phủ thì hãy tạm gác lại cái ý nghĩ đó. Bởi vì vấn đề là dân chúng ở đây mang một căn bệnh nan y không thể chữa nỗi: LƯỜI!

LƯỜI VẬN ĐỘNG, TẬP THỂ DỤC

So với số người tập thể dục, thì số người không tập chiếm gấp nhiều lần, nếu không muốn nói là áp đảo hoàn toàn. Bạn không tin? Sáng thức dậy 4 giờ sáng chạy bộ. Rất nhiều ông cụ, bà già sẽ chạy cùng bạn. Số trung niên cũng rất nhiều. Còn số thanh niên thì chiếm trên đầu ngón tay thôi nhé.

Mà không tập thể dục thì chẳng đào đâu ra sức khỏe, không có sức khỏe thì làm cái gì cũng mau mệt, mau mệt thì sẽ nhanh chán, mà nhanh chán thì sẽ sớm bỏ cuộc. Những người có sức khỏe yếu thường làm mọi việc qua loa. Tin tôi đi. Họ không chịu đựng nỗi bất cứ chuyện gì hết. Đó là khi chúng ta nên nói tiếp các kiểu lười khác là hệ lụy của lười vận động.

LƯỜI HỌC

Cái này thì khỏi nói rồi. Trừ các học sinh trường chuyên và công lập, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười. Khoan hãy nói đến việc kiến thức có hàn lâm hay không, có khó nuốt hay không, có kém thực tiễn hay không. Mà hãy tự hỏi, tại sao lại như vậy? Không ai chịu đựng nỗi 2 3 tiếng học bài ở nhà. Nói trắng ra là họ quá lười chịu đựng. Alan Phan đã từng nói rằng ông không hiểu tại sao một đất nước dân số vàng như Việt Nam lại có vẻ lù khù như các cụ già đến vậy.

Bạn hỏi tại sao? Hãy tạm trách Internet, Smartphone, Karaoke, Nhậu nhẹt, Lotte, Starbuck và các loại ăn chơi thời hiện đại nhé. Bạn lại hỏi tại sao nữa à? Bởi vì đó là thách thức của thời đại này. Thú vui hưởng thụ bao vây xung quanh, nhan nhãn đông tây nam bắc hướng nào cũng có. Tại sao phải chịu đựng học bài khi tụi bạn đi nhậu, đi hẹn hò, đi Lotte? À, quên nữa, đừng ai nói với tôi một câu mà đứa trẻ trâu nào cũng biết: Cái nào cũng có mặt lợi, quan trọng là đừng dùng quá liều lượng. Bởi vì, không có mấy ai biết kiểm soát chính họ ở cái vùng đất này đâu.

LƯỜI LÀM

Tất cả những người chủ ở Việt Nam đều khó tính, họ thường đốc thúc công nhân của mình. Bởi vì họ biết, không đốc thúc, bọn công nhân chỉ ngồi chơi, và làm kiểu đối phó, chủ tới thì luôn tay luôn chân, chủ đi thì phì phèo điếu thuốc, thậm chí là lướt facebook chat chit nữa là đằng khác. Nếu cha mẹ bạn là người trả tiền cho công nhân, chắc bạn sẽ rõ điều đó hơn cả.

Bạn hỏi vì sao họ lười làm, họ bắt đầu lười từ khi nào? Vì sao? Vì họ chẳng có thích thú gì với công việc. Bởi vì họ từ cái giây phút họ lười học, họ chẳng có kiến thức gì để giải quyết vấn đề nên họ chẳng muốn xảy ra thêm vấn đề gì nữa. Mà đấy, cách hay nhất để không có vấn đề gì để giải quyết là ngồi chơi. Làm việc thì tạo nên vấn đề, giải quyết vấn đề chính là một bước thăng tiến. Nhưng họ lại sợ gặp vấn đề biết bao. Không giải quyết được lại bị chửi, lại bị sỉ nhục, lại quê với người khác. Nên họ thà làm người nhàn rỗi tay chân, áo sạch đồ đẹp, không một vết bẩn còn hơn lấm lem mồ hôi, nhếch nhác không ai thèm dòm.

LƯỜI SUY NGHĨ

Lướt dạo hết vòng facebook là điều bạn có thể làm ngay. Nếu facebook bạn không có gì đáng để xem, không có gì để làm bạn cảm động, làm bạn thấy phải nhìn lại bản thân mình thì bạn chính là một ví dụ. Còn nếu có thông tin gì đó hay, viết về thực trạng của đất nước, về ô nhiễm môi trường, về động vật tuyệt chủng, hay các bài viết học thuật, hãy xem nó được bao nhiêu người like? À, thường thì không có bao nhiêu người like đâu. Không tin lướt ngay facebook là biết.

Chúng ta không có gì để học sao? Hay chúng ta chỉ quan tâm về tự sướng, em nào đẹp, em nào xài camera 360, anh nào GAY, chỗ nào chơi tốt, khu nào ăn ngon, quần áo chỗ nào bán đẹp? Nếu facebook của bạn không có bất cứ cái gì liên quan tới học thuật, kiến thức, thay vào đó là 90% ảnh girl xinh, trai đẹp, hãy yên tâm một cách chắc nịch rằng bạn là một trong những đứa lười suy nghĩ bậc nhất thế giới.

LƯỜI TRANH ĐẤU

Cái này thì khỏi phải nói luôn rồi. Cha chung chả ai khóc mà. Đất nước ngày càng đi xuống thì cũng mặc. Nói thật, chả ai quan tâm cả. Những người có tâm, những người làm báo cứ như những kẻ thui thủi một mình tự kỷ vậy. Bài nào họ viết ra, họ tự đọc, chả mấy ai đọc nói chi đến like và comment. Đi chơi noel xong rác thải đầy đường để phải viết lên báo, cũng chả cần thấy nhục mặt cho bản thân hay cho đất nước này, cứ thế năm nào cũng vậy, cũng lên báo, rồi cũng thôi, vì chẳng ai còn hơi sức để nói nữa.

Thờ ơ là căn bệnh của người Việt. Nếu không tin, search bài báo: “Người Việt vô cảm thứ 13 thế giới” là biết. Họ chẳng muốn tranh đấu. Họ chẳng muốn gì cả ngoài việc hưởng thụ những gì đang có. Tài nguyên chúng ta bán, cây rừng chúng ta cưa, voi rừng chúng ta giết, thú rừng chúng ta ăn, chả còn gì mà chúng ta “tha” cả. Khai thác triệt để cho thế hệ này tận hưởng, có thể đoán là trong vòng 10 năm tới sẽ cạn sạch. Nhưng mọi người thì cứ thờ ơ để mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Miễn là họ không ở những vùng hiểm trở, thiên tai; miễn là họ không bị gì hết. Càng ngày, người ta càng rút về thành thị, co cụm, bạn thấy không? Cả đám ăn chơi phè phỡn với nhau, rồi chuốc độc nhau trong từng thớ thịt, dĩa cơm… Nhưng không ai muốn tranh đấu! Chẳng ai muốn cả, vì họ bận phải hưởng thụ sự hiện đại này.

Đấy là những thế hệ đã được đào tạo. Việt Nam thuộc loại khủng của thế giới trong việc chi ngân sách cho giáo dục. Họ đã làm gì, và chúng ta đã tôi luyện bản thân như thế nào? Có khi nào chúng ta thấy nhục nhã, chẳng cần gì cao siêu, mà chỉ bởi vì chúng ta vừa quăng một cục rác xuống đường. Ai đó nhắc nhở, và chúng ta phản bác: TRƯỚC SAU CŨNG CÓ NGƯỜI QUÉT THÔI. Liệu có bao giờ chúng ta thấy nhục mặt vì cái độ lười nó ghê tởm đến nỗi những con chó thông minh, biết đi ị đúng chỗ cũng phải khinh thường?

Những thế hệ đi qua, và những bài học của các bậc mẹ cha ngày càng thực dụng. Bạn không thấy xã hội này quá co cụm từ khi bạn chuẩn bị cắp đồ lên thành phố học? 99,9% tôi đảm bảo sẽ được nhắc: Giữ tiền cẩn thận nha con, trộm cắp dữ lắm; Ở ký túc xá coi chừng nhà con, trộm cắp phức tạp lắm; ở Sài Gòn cẩn thận nha con, dân tứ xứ chẳng biết ai là ai đâu…

Bạn đã từng nghe, chắc chắn như vậy, và hãy thừa nhận là lũ người xung quanh bạn thật gớm ghiếc. Và bạn, tôi chỉ đích danh bạn đó, cũng chưa chắc là một trường hợp đặc biệt gì ngoài lũ gớm ghiếc đó đâu. Một lũ tệ hại, cười với nhau những nụ cười giả tạo, đôi tay vịn chắc túi tiền và trôi vào dòng cuộc sống. Chúng ta chắp vá đất nước này, rách chỗ nào vá chỗ đó, nhưng đúng như Lưu Quang Vũ nói: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá, gượng ép chỉ càng sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc làm đúng khác.”

Nhưng chúng ta chẳng quan tâm lời dạy này. Chúng ta chắp vá nhiều hơn là đằng khác. Ai đó đút lót, chúng ta đút lót nhiều hơn. Ai đó đối phó để được điểm cao, chúng ta quyết tâm biết được đề thầy sắp ra giờ kiểm tra. Ai đó quăng rác bừa bãi, chúng ta quăng rác một cách tinh vi. Ai đó lừa đảo ta, ta học cách đó để lừa đảo lại người khác. Và chúng ta có một xã hội như ngày hôm nay. Chẳng ra một cái gì cả.

Một dân tộc ghê tởm nhau, đề phòng nhau đến những chuyện nhỏ nhặt đến như vậy thì làm sao còn đầu óc để đầu tư vào những thứ tiến bộ khác hơn? Một xã hội co cụm, những ánh mắt đầy hoài nghi, ghê tởm thay cho chúng ta!

Chúng ta lười mọi thứ. Chúng ta lười vận động, rồi thì sức khỏe chúng ta kém, sức chịu đựng không có nên chúng ta nhác học, lười làm, buồn ngủ khi phải nghĩ và chán ngán khi phải chịu đựng. Tất cả những gì chúng ta có là đối phó, từ trong ra ngoài. Không đối phó bằng cách hối lộ tiền, thì đối phó bằng cách mua bằng cấp giả, nếu không được thì học đại cho xong, và trong lúc học cũng đối phó với thầy cô. Vâng, chúng ta đối phó n+1 các loại. Nhưng điều làm tôi ghê tởm hơn cả tật đối phó, chính là không thèm đối phó nữa mà sẵn sàng thải rác ra đường như không giữa ban ngày ban mặt, buông lời tục tĩu, dâm dục giữa thiên hạ. Số đó không hề ít, xin chớ coi thường.

Chịu đựng! Những người đi ra từ chiến tranh với sức chịu đựng ghê gớm lại nuôi dạy con họ một cách đầy nuông chiều. Quá nhiều người đi ra từ chiến tranh, quá nghèo khổ để nói đến đức hạnh, tất cả những gì họ lo lắng là tiền, là mưu sinh. Đó là lý do chúng ta ở đây. Cả một lũ không được giáo dục tốt. Cả một lũ đang làm đất nước này đi xuống. Đó không phải là lỗi của họ, hãy thông cảm vì điều đó. Họ đã cố phải xây dựng lại mọi thứ từ đống tro tàn. Nhưng còn chúng ta thì sao? Được nuông chiều từ nhỏ tới lớn, chẳng phải chịu đựng bất cứ cái gì, và giờ thì sẵn sàng ngồi quán cafe chém gió suốt ngày.

Bạn biết bọn nhậu nhẹt và ngồi quán cafe chém gió thường nói gì khi gặp nhau? Tao mới xin làm chỗ kia, lương 4 triệu mà toàn ngồi chơi. Liền lập tức, thằng đối diện sẽ bảo: NGON VẬY!

Cái tư duy ở xứ này là: Ngồi chơi và “khỏe”! Nhưng yên tâm đi, vũ trụ rất công bằng. Cái chỏm nhỏ ở chỗ này trước sau gì cũng bị trừng phạt nếu tiếp tục tồn tại theo kiểu đó.

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Đừng uống cạn tài nguyên này, đừng ăn mặn để con cháu khát nước. Đừng để thế hệ nối tiếp thế hệ sống cuộc sống như thế này. Và xin cũng đừng, đừng xấu xa cho đã để rồi sau này bắt con mình trở thành một người tốt. Con nít học qua hình ảnh, nó bắt chước tất cả những gì nó thấy. Đừng bao giờ cho phép bản thân tệ hại, và dạy con bằng cái lối nói rằng bạn dù có xấu xa thế nào cũng là hy sinh cho tương lai của nó. Bởi vì, cách đó nhàm quá rồi, một lời biện hộ không có nghĩa gì hết.

Tôi biết là Việt Nam vẫn chưa đến lúc có một cuộc cách mạng cải tổ lại tư duy người Việt. Nhưng từ giờ cho tới lúc đó, hy vọng tôi có thể giúp ai đó hiểu rằng, hãy luyện tập, hãy chịu đựng để bước đi những ngày tháng trưởng thành. Bạn không thể lớn thêm nếu không chịu đựng. Nếu bạn muốn đi lên, bạn phải chịu đựng, dù xung quanh không có ai hỗ trợ bạn, dù xung quanh mọi người đang say ngủ…

NẾU BẠN MUỐN TRƯỞNG THÀNH, HÃY CHỊU ĐỰNG

Trong nghĩa của từ chịu đựng, không có lười biếng. Trong nghĩa của từ chịu đựng là sức mạnh. Mỗi một cá nhân có sức mạnh, khỏi cần phải bàn tới chuyện đất nước có đi lên hay không, vì đôi tay của họ thậm chí có thể nhấc bổng cả bầu trời…

(Nếu bạn nào đặt một dấu chấm hỏi vì sao bài trước tôi viết là chẳng có ai lười thì bài này tôi lại đỗ lỗi cho việc người ta lười, thì xin hãy hiểu rõ là trong 2 bài tôi đang đề cập đến 2 chuyện khác nhau. Bài trước là cảm thông với những người chưa tìm ra họ là ai trong cuộc đời. Bài này nói về những con người xung quanh tôi mà đầu óc bị mụ mẫm hóa hết rồi, không còn biết gì ngoài những lạc thú tầm thường nữa).

(Kiến Thức trẻ)

/From Email: Thai Nguyen quang thai.nguyenquang@gmail.com/

Nguồn: http://bongbvt.blogspot.com/2017/01/at-nuoc-cua-nhung-ke-luoi-bieng.html

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 6, 2017 in Lưu

 

Nhãn: ,

Sự tích những ngày đẹp trời

Sự tích những ngày đẹp trời

Sự tích những ngày đẹp trời – Hòa Vang

để nhớ HÒA VANG

 Như mọi người đều biết: trong hội thi kén rể của Hùng Vương, phần thắng về Sơn Tinh, Thủy Tinh là người bại. Rồi theo cái lẽ thắng thua, định phận, định phần ấy mà Mỵ Nương theo Sơn Tinh về núi Tản, nên vợ nên chồng. Còn nước các triền sông lớn thì cứ hằng năm, đến kỳ, lại sôi sục, cuồn cuộn dâng lên như ghen cuồng, uất hận khôn nguôi…

Lại cứ theo thế mà suy, sai cũng coi là cố nhiên, không còn gì phải đôi hồi, bàn cãi, và không thế, thậm chí không được nghi ngờ; vợ chồng Sơn Tinh sống rất hạnh phúc, tốt đẹp, mẫu mực tuyệt vời…

Mà sự thực quả đúng là như thế.

Nhưng, có điều, còn có một cái lẽ cố nhiên khác nữa, riêng nhỏ âm thầm, cái lẽ cố nhiên trong lòng những người con gái lấy chồng xa: nỗi nhớ nhà.

Mỵ Nương nhớ nhà, nhớ cha mẹ lắm. Mà Sơn Tinh thì bận lắm. Vợ lại hết mực trọng chồng, không muốn một bợn nhỏ làm bận lòng chồng. Chồng thì xiết bao tin vợ và tự tin mình. Niềm tự tin lúc nào cũng dày dặn, bền chắc. Cho nên nỗi nhớ của Mỵ Nương cũng phải chịu phận sống len lỏi âm thầm, có lúc còn phải tàng hình, tan biến vào những ánh mắt chào đón rạng rỡ, vào những nụ cười hơn hớn tươi vui. Mà càng như thế, thì nỗi nhớ ấy, cái lẽ cố nhiên ấy, lại càng day dứt, ngún cháy nồng đượm, cồn cào.

Mỗi năm, Sơn Tinh đưa vợ về thăm lại quê nhà một lần. Là người trí lực kiên cường, quảng kiến và ngăn nắp, đã bao nhiêu năm Sơn Tinh chưa một lần thực hiện sai chệch những ấn định của mình. Những ngày về thăm Phong Châu ấy bao giờ cũng thật huy hoàng, chu đáo, tuyệt hảo.

Mỵ Nương biết ơn chồng lắm. Nàng cố nương theo, khuôn mình, không để cợn cạo trong cái dòng chung huy hoàng, chu đáo, tuyệt hảo ấy… Để chờ cái phút được chạy gấp tới, ùa vào lòng cha mẹ, mặc những giọt nước mắt mừng tủi ứa ra… Chưa nói đến những ngày vui ấy trôi qua thật nhanh, thật bé xíu, ngắn ngủi. Bao giờ, bao giờ cho đến ngày này sang năm nữa?

Tự nhiên một hôm Mỵ Nương đánh bạo xin phép Sơn Tinh cho nàng về thăm quê một mình. Và Sơn Tinh, như thường khi, lập tức bằng lòng.

Đường về Phong Châu, Mỵ Nương đi như gió chạy, nhẹ bỗng, tung tăng. Miệng chỉ chực cười, chực reo, chực hát.

Về được một ngày, trọn vẹn riêng tư với cha mẹ, anh em, sớm hôm sau, buổi sớm đầu tiên thức dậy tại quê cha, chợt Mỵ Nương xốn xang muốn dạo ngược lên núi, tới tận con suối nhỏ đầu nguồn, nơi nàng nhớ mình đã tắm lần đầu, từ khi biết nhớ, biết nghĩ, từ khi mình còn là một cô bé. Từ xa, đang còn nhón gót lướt trên những giọt sương mai long lanh đầu những ngọn linh thảo xanh mởn, Mỵ Nương đã nghe tiếng róc rách. Tiếng róc rách như cả tuổi thơ thóc mách, giòn giã mà thổn thức, đang đợi nàng đã bao nhiêu năm…

Khoang suối trong vắt như vành gương trước mặt. Hơi nước lượn vờn như sương khói khơi vơi huyền ảo. Cái mát tinh khôi thấm vào da thịt. Tự nhiên Mỵ Nương nghẹn ngào. Diềm mi ấm dội lên, nước mắt ứa ra. Mà môi nàng là nét cười, nét cười thơ dại, ngây ngây.

Ngoắt đầu, phẩy tay điệu đàng và thoáng chút nghịch ngợm, ra hiệu cho những thị nữ theo hầu cuối cùng rời gót. Bước xuống viền suối, để nước vờn liếm quanh bàn chân đỏ dậy của mình. Mắt nhìn xuống, như hút lên, như thấm cái mầu đỏ hồng ấy lan tỏa cả lên gương mặt. Thong thả ngoái lại sau… không còn ai cả.

… Mỵ Nương cởi xiêm y.

Ngấn nước vừa chớm chạm ngực thì, như không nén nổi nữa, Mỵ Nương bất giác đưa hai tay vuốt xõa đổ suối tóc mây bồng bay lên, giang hai tay, mắt nhắm nghiền lại, nàng nhảy ào, trằn mình uốn lượn giữa dòng suối và buột lên tiếng hát trong vắt.

Chợt tiếng hát ngừng bặt, Mỵ Nương thốt rùng mình. Nàng hoàn toàn cảm thấy, không thể nhầm lẫn, dòng suối đang ôm xiết vuốt ve lấy thân thể nàng là một đôi tay cường tráng mà đắm đuối, dịu dàng của một da thịt, một con người… Mỵ Nương thoáng nghe thấy, lọc qua tiếng nước rì rào, róc rách, có tiếng đập gấp gáp rộn ràng, như dưới đáy suối có một trái tim bồi hồi. Tự nhiên, Mỵ Nương giang rộng đôi tay ôm nước, như đón nhận… rồi đột ngột quẫy mình, quay ngoắt vào bờ, với lấy váy áo.

Mỵ Nương đã ở trên bờ đá. Những giọt nước tí xíu vẫn đang trôi bịn rịn trên da thịt nàng, trước khi tuột hẳn, nhập lại vào dòng suối. Những giọt nước ấy ánh sắc hồng ngọc, dần tụ lại và đột khởi, trong không gian tĩnh lặng, như dội cả dòng suối lên. Nước suối cuộn sóng, dựng đứng lên, thành một chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn.

“Trời, Thủy Tinh… Sau biết bao nhiêu năm rồi…” Mỵ Nương khẽ cúi đầu, bắt gặp bờ vai trần của mình vẫn ngời ngợi sáng lên và nàng thấy không còn một chút sợ hãi bỡ ngỡ nào nữa trong lòng. Nàng chợt thấy mình e ấp mà chủ động, mà ở ngoài mọi cương tỏa, như phút nàng đứng sau rèm ngày vua cha kén rể. Nàng thấy mình trinh nguyên. Mắt tai thông thính sáng láng lạ thường…

– Mỵ Nương em có nhận ra tôi không?

– Dạ…

– Vậy thì tôi là ai? Em hãy gọi tên tôi. Hãy gọi tên tôi một lần.

– Chàng đã không tin em rồi…

Mỵ Nương khẽ ngước mắt lên. Mắt nàng không định mà hơi chau lại. Mỵ Nương không tự ái, nàng chỉ nghĩ rằng mình có quyền nghịch ngợm một chút. Nhanh nhẹn, dứt khoát, Mỵ Nương mặc váy áo, đứng dậy chắp tay, thi lễ:

– Em về.

Mỵ Nương bước đi và lắng nghe sau lưng mình, tịnh không có một tiếng động. Chỉ một làn sương bụi nước ấm thơm ngát bỗng lan tỏa, hồng hồng bao lấy Mỵ Nương mà không lấp, không che lối về của nàng.

Nhưng chỉ bền gan được chừng mươi bước chân, Mỵ Nương quay phắt lại. Làn sương ấm đã cuồn cuộn thành một bồng mây óng ánh ngũ sắc chợt tan biến. Gương suối lặng tờ. Thủy Tinh đã biến mất.

Mỵ Nương chạy ào xuống suối, thảng thốt:

– Ôi, Thủy Tinh…

Suối cuộn sóng, một bồng nước dâng, đưa Mỵ Nương giạt lên bờ, ở chỗ lúc nãy nàng ngồi. Những đọt nắng sớm xuất hiện, tãi ấm trên xiêm y, thân thể nàng. Những giọt nước óng ánh trên tóc Mỵ Nương, như châu ngọc li ti.

– Thế là được rồi. Tôi đã được nghe tiếng em gọi tôi thật lòng… Sau bao năm…

Tiếng Thủy Tinh vang lên, trầm ấm. Và Mỵ Nương thấy chàng lại sừng sững đứng đó, giữa tim suối. Thật đẹp và thật buồn.

*
– Hãy nghe tôi… Hãy ngồi yên đó và nghe tôi thôi. Không thì không sao tôi bình tĩnh nổi… Tôi hoàn toàn hiểu rằng chỉ có lần gặp gỡ này thôi, muôn đời tôi sẽ không còn gặp được em nữa. Tôi hiểu em là gái đã có chồng, em sống tuyệt vời hạnh phúc và mẫu mực. Còn tôi: một kẻ bị muôn đời gớm ghiếc, nguyền rủa và cô đơn. Nỗi cô đơn mênh mông, cồn cào, như cả xứ sở đầy sóng gió, biển cả và đại dương của tôi. Nhưng tôi yêu… Tôi đã yêu em, từ lâu lắm rồi cho đến mãi mãi. Từ khi em còn là một cô bé con… Ngày ấy, ngày em lần đầu tiên lên tắm ở tận con suối đầu nguồn này, em còn bé và tôi còn trẻ lắm, tuy cũng đã là Chúa Biển rồi… Ngày ấy, tôi đã biết em, đã tan hòa trong những giọt nước, nô giỡn, cười vui thỏa thích cùng em. Vì ngày ấy, tôi đã tự nhiên cứ muốn một lần được lang thang từ biển vào sông, muốn đi ngược lên mãi và tôi đã đến tận đây, tận nguồn này, gặp đúng ngày đầu tiên em được phép phụ vương nhào mình xuống suối. Rồi tôi phải về biển… Nhưng lòng ước tính từng năm để rồi quyết, để rồi không nén được sẽ phải đến nói cho em, cho phụ vương em rõ tình yêu của tôi. Tôi lên bờ đất Phong Châu để nhận tin phụ vương đã dựng lầu kén chồng cho em. Tôi đã gặp Sơn Tinh nơi quán dịch. Biết bao chàng trai khi nhìn thấy hai chúng tôi đã đành ắng lặng xếp khăn gói, lủi thủi ra về. Thật tội, nhưng biết làm sao? Họ là những người thường và họ biết rõ thứ hạng của chúng tôi: những thần nhân. Sơn Tinh thì chỉ nói với tôi: Chàng nghe nói vua Hùng kén rể, lại cũng nghe nói cô con gái vua ngoan lắm, đẹp lắm. Sơn Tinh còn nói thêm: “Người thần mà lấy con vua, thực là một việc hợp lẽ”. Rồi chàng đi ngủ, thật thanh thản, đàng hoàng, dáng nằm thật thư thái, uy nghi. Chàng ngủ rất ngon. Còn tôi lúc ấy, tôi đã không sao ngủ được, lòng chỉ còn cồn cào một ý nghĩ làm sao gặp được em, thấy được em. Đã bao lần tôi định lẻn trốn ra ngay trong đêm tìm đến chỗ em. Nhưng rồi tôi biết em đã ở trong cung cấm. Và… ý nghĩ cuối cùng khiến tôi đành nén lòng nằm yên chờ sáng… “Biết đâu, em cũng đang ngủ rất ngon, rất say. Thực vô duyên nếu quấy rầy em, nếu làm em dở giấc”.

– Không, thưa chàng, đêm ấy em cũng không sao ngủ được…

– Cảm ơn, cảm ơn em. Đó, tôi và em cứ có những cái giống nhau, những cái trùng nhau vô bổ, vô tích sự, những cái tương hợp chẳng để làm gì ấy như thế đấy… Ô hô! Cuộc đời… Và buổi sáng đã đến… Cả hai chúng tôi được gọi vào chầu phụ vương em cùng một lúc. Cái đường bệ, thong thả ung dung của tôi chỉ là cái dáng vẻ bên ngoài. Mắt tôi đầu tiên đã đặt vào khoảng rèm thoáng lay động sau lưng nhà vua. Có phải em đứng chỗ đó không?

– Dạ, đúng… 


– Chợt nhớ phải giữ ý, không thể nhìn vào đó mãi, tôi đành đăm đăm dõi vào gương mặt cha em. Và như đền bù cho tôi, hai cha con em giống nhau lắm. Tôi gạn được biết bao nét từ cha em thành em. Tôi quên mất, ánh mắt của tôi đã làm ông ở ngay phút đầu dễ có gì ngài ngại, thậm chí khó chịu với tôi. Vừa thi lễ xong, đã nghe lời cha em hỏi: “Chẳng hay hai vị tới đây có việc gì?”. Tôi đã không hiểu ngay lúc ấy. Mãi sau này tôi mới thấy trong câu hỏi ấy có cái oái oăm của một đấng quân vương, cái nếp quen triệu tập mọi người đến vì ý mình rồi lại bâng quơ hỏi nói như phải miễn cưỡng tiếp người ta như không, lẫn cái lối giữ giá của nhà có con gái, dẫu đang ở ngôi chúa tể… Và điều không may mắn nhất, điều lú lẫn nhất của tôi là tôi đã không thấy trước ở đó một lời gợi ý, một điểm nếu thuận theo thì lợi, nếu trật thì mất điểm, thua thiệt ngay thuở đầu. Tôi chỉ lăm lăm bộc bạch, không màng tới đua tranh, khi thua rồi, khi mất em rồi, mới nghĩ lại tất cả. Tôi đã không để ý tới tiếng “việc” (chẳng hay hai vị tới đây có việc gì?) Và Mỵ Nương ơi, có phải là hôm ấy, tôi đã bước lên trước và trả lời trước…

– Vâng, thưa chàng, đúng như vậy. Em cũng có thể nói thêm để chàng rõ: chính vì thế mà trong hai chàng, kỳ thực và tính thật đúng đến từng khắc, thì chàng lại là người mà em biết trước, biết tên, nhìn được mặt, được người trước. Bởi vì chỗ em đứng khuất một thân cột và viền rèm, khiến chỉ có ai bước lên một bước nữa hôm ấy mới qua chỗ khuất và em mới được nhìn thấy. Vì vậy mà em hoàn toàn nhớ: chính chàng đã bước lên trước, đã trả lời trước…

– Và em có còn nhớ câu trả lời của tôi không?

– Thủy Tinh ơi, em không muốn một lần nữa nhắc rằng: chàng đã không tin em, cũng không muốn một lần nữa rời gót khỏi nơi đây, để rồi lại phải chạy lại… Em muốn nói với chàng một lời: Vì sao chàng cứ thích nhắc lại những lời ấy, nó có làm cho chàng dịu bớt được một điều gì đâu? Không nhắc lại thì nói cũng có làm cho chàng mất mát thêm điều gì đâu?… Thủy Tinh ơi, chàng đừng giận nhé, em cảm thấy chàng chẳng có gì khác ngày ấy cả. Chả có gì lớn hơn, từng trải hơn, điềm đạm hơn, thiết thực hơn cả… Không nên như thế, em cảm thấy thế, mong cho…

– Thôi thì tôi sẽ đè bẹp nốt cả cái mong muốn cứ chốc lát lại được nghe tiếng em, dù chỉ một tiếng “có” hay “không”… Thôi thì em lại nghe tôi nhé…

Tôi đã bước lên, nói ngay điều có từ hơn mười năm trước. Tiếng tôi là tiếng sóng cồn lên, va đập:

– Tôi đến đây để bộc bạch với Người tình yêu của tôi với Mỵ Nương, con gái Người.

Và Sơn Tinh, quả thật, thâm trầm điềm đạm như núi và khôn ngoan vững vàng như đất, đã thong thả cất tiếng sau tôi:

– Kính thưa bệ hạ, thần đến đây để xin được cưới công chúa Mỵ Nương, được trở thành con cái trong nhà của triều Hùng.
Thế đấy! Tôi thoáng thấy nhà vua khẽ gật đầu, ánh mắt dành cho Sơn Tinh mềm mại, ưu ái lắm. Tôi cảm thấy mình bị thất thiệt. Phụ vương em quả không hổ tiếng là người đứng đầu trăm họ, lo toan biết bao công việc. Cho nên đã trọng việc hơn trọng tình. Cái việc nó cộn lên lồ lộ, còn cái tình thì vô hình vô ảnh. Tôi thì thổ lộ cái tình, Sơn Tinh xin lo việc và còn hứa sẽ xếp mình vào cùng đội ngũ. Thế là dường như không thể khác, các món sính lễ đã được đặt ra thật dễ hiểu: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…
Đúng bình minh hôm sau… Ai đến trước sẽ được đón Mỵ Nương về…
Tôi không thể ngờ phụ vương em lại thiên lệch, lại thiếu công bằng, lại rẽ tình tôi với em tàn nhẫn và không trong sáng đến như vậy.

– Thủy Tinh, chàng chớ quên em là…

– Chính vì thế… Và đây, em hãy gắng trả lời tôi từng câu nhé. Một: voi ở núi hay ở biển?

– Dạ, ở núi.

– Ngựa ở núi hay ở biển?

– Dạ, ở núi.

– Gà ở núi hay ở biển?

– Dạ, cũng ở núi.

– Hừ, câu cuối cùng: Núi Tản và Biển Cả, nơi nào xa Phong Châu hơn?

– Dạ, biển xa hơn, xa hơn nhiều. Chàng ơi… đừng hỏi em nữa.

– Thế đấy, tôi ngước lên thì phụ vương em đã phất áo quay vào nội điện rồi. Vả lại, dù cho Người còn đứng đấy thì phỏng tôi nói được gì? Làm sao tôi có thể cãi lại cha của người mình yêu ngay trong lần đầu gặp gỡ. Chưa nói làm sao tôi có thể bộc lộ cái kém cỏi của tôi trước Sơn Tinh ngay tức khắc như thế.

Tôi chỉ thấy ngực mình nóng dội lên, hình như có lửa cháy trong tim tôi. Tôi nhìn vào khoảng rèm, không còn thấy lay động nữa, tôi cảm thấy em không còn ở đó nữa.

– Vâng, cha em vào là vẫy tay bắt em theo sát gót ngay. Người cũng thấy em muốn nán lại, và chắc chính vì thế mà nhất định gọi em cùng vào nội điện ngay…

– Em đã muốn nán lại. Vì sao vậy?

– … Em cũng không biết nữa, cho đến tận bây giờ…

– Còn tôi thì cứ đứng sững bên thềm đại điện. Mãi một lúc lâu, khi giật mình quay ra thì chỉ thấy trống trơ có một mình mình. Sơn Tinh đã ra về tự lúc nào.

Tôi về biển, lòng rầu rĩ, thẫn thờ. Cầm bằng như đã bị cướp mất em. Đám bầy tôi, đàn em của tôi xúm lại hỏi mãi, tôi mới dật dờ nhớ lại được, kể lại mọi việc lần lần. Tức thì có ba đứa bước ra, đập đầu loang máu: Thuồng luồng, Ba ba, Cá Ngực. Chúng tôi xin nguyện hiến mình cho tôi, cam hóa thân thành voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.

Quyền phép thì tôi có tu luyện đủ đầy, nhưng phàm việc hóa thân thì phải có lửa. Mà dưới Thủy Tinh cung của tôi, chẳng lửa nào cháy được. Tôi ôm lấy lũ đàn em, nước mắt cứ vỡ ra. Bỗng lồng ngực tôi nóng rực. Tôi sững sờ: trái tim tôi đã cháy lên, ngùn ngụt. Ngọn Hỏa Tâm ấy đã làm được tất cả. Đêm ấy, ba tầng nước Thủy Tinh cung thẩy đều sôi động. Tầng trên cùng đen cháy, sôi sục, hứng trọng lều bều những lớp vẩy vỏ của những xác hóa thân. ở tầng giữa, nước đỏ bầm mầu máu cháy. Và ở dưới cùng, cõi nước lung linh sáng rực nơi lò luyện. Gần sáng thì cả ba con vật đã hiện hình, đã đi, đã thở rống lên, đã gục gặc đầu vai, đã ra hẳn sự sống voi, ngựa, gà… Lồng ngực tôi thoáng đãng như những buổi sớm mai ở biển. Tôi dẫn đầu đoàn sính lễ vội trẩy ngược Phong Châu, nghe gió lướt tràn rạt hai bên mang tai mình.

Nhưng tôi đã đến chậm bốn khắc. 


Tôi đến để vừa kịp nhìn Sơn Tinh cưỡi ngựa đi trước, kiệu hoa của em uyển chuyển theo sát, như có dây buộc, đằng sau… Cái uyển chuyển do vai một cỗ bốn người khênh tài giỏi theo nhịp nhạc lễ, mà tôi lại cứ nghĩ từ em, em uyển chuyển theo sau Sơn Tinh. 


Lòng tôi tuyệt nhiên không một mảy may oán hận Sơn Tinh. Tôi chỉ đau xót cho tôi. Tôi đứng chết sững, và không thể cầm được nước mắt ào ào dâng lên, túa ra giàn giụa. Tôi khóc như một người thường. Tôi quên mất mình là thần Biển, thần Nước… Mỵ Nương, em có thấy không, hôm ấy, mưa trước hay nước dâng lên trước, hãy nói tôi nghe! 


– Chàng đã nói lại hoàn toàn đúng… Em ngồi trong kiệu, đã thấy chàng đến sau, rồi đứng sững nơi ngã ba Phong Châu… Và trước lúc khuất hẳn, em ngoái lại, khẽ vén rèm kiệu nhìn về phía chàng lần cuối thì thấy trên mái kiệu của em, tiếng nước rơi, tiếng mưa mỗi lúc một dồn dập, rào rào… Cũng lúc ấy, Sơn Tinh giục cả đoàn phải đi mau. Chồng em bảo: “Phải đến được địa giới núi Tản trước khi Thủy Tinh kịp dâng nước lên…”. Và đúng như thế, vừa khi ngước lên thấy ngọn Tản Viên, thì nhìn xuống đã thấy sóng trắng cuồn cuộn sôi sục, gần bén sát chân ngựa… Chồng em đã nói đúng. Chàng làm sao chối được tội lỗi tàn sát bao sinh linh, hoa lợi, mùa màng, chỉ vì một chút… em…


-… Tôi đã chỉ đứng khóc. Tôi không bao giờ cho lệnh dâng nước lên… Nhưng phía sau tôi lúc ấy đã có nhiều điều xảy ra. Tôi không biết rằng khi tôi vừa sững sờ thấy cảnh Sơn Tinh đón mất em, khi tôi vừa rùng mình lần đầu, thấy mất hết sức mạnh lần đầu, thì cũng lúc ấy, cả thuồng luồng, ba ba, cá ngựa đã cùng thoắt rùng mình trút lốt, hiện lại nguyên hình. Những thân hình mạnh mẽ duyên dáng khi uốn lượn giữa sóng nước ấy nay đột ngột chềnh ềnh ra trên cạn, trông quằn quại, nhãy nhợt, gớm ghiếc, tanh tưởi lắm. Và những người dân Phong Châu đã kéo ra xem đám cưới em, lúc ấy cũng cất tiếng cười ồ cả lên. Tôi vĩnh viễn trở thành kẻ gian manh, giả trá, kẻ làm đồ giả đầu tiên, từ phút ấy. Thật kinh khủng. Một thần nhân mà đang tâm lừa vua, dối Chúa, toan cướp đoạt công chúa đẹp xinh nhất nước bằng quỷ kế, bằng thủ đoạn đốn mạt, lập lờ đánh lận con đen. 


Tiếng cười ồ lan rộng vang mãi của bao người Phong Châu hôm ấy khiến tôi không thể đứng mãi đó mà nhìn theo em được. Tôi đành gạt nước mắt, giơ tay ra hiệu cho các bầy tôi quay trở lại biển khơi. 


Nhưng không được, các bầy tôi, đàn em của tôi vốn đều là những Thủy thần, Thủy quái có uy lực nhất định. Những kẻ đã sẵn sàng hóa thân vì tôi nay hoàn toàn có lý phẫn nộ trước tôi – vị thủ lĩnh thất bại và cam bó tay, nước mắt chan hòa, đầu cúi, chân rã rời lê bước về chỗ xuất phát. 


Tôi đã một mình về biển. 


Và Thuồng luồng, Ba ba, Cá ngựa cùng muôn loài Thủy quái đã phẫn nộ ào ạt dâng nước lên, ngược với chiều tôi đi, xối xả nghiêng về núi Tản.

Sơn Tinh cùng em và muôn loài ở núi đã vất vả chống chọi như thế nào và đã chiến thắng vẻ vang ra sao, tất cả mọi người đều đã biết.

Nhưng đấy hoàn toàn không một chút gì là chiến thắng Thủy Tinh. Thủy Tinh không hề có mặt trong những con nước ấy. 


Tôi biết Sơn Tinh có thể khiến nước dâng đến đâu núi cao lên đến đấy. Nhưng đấy chỉ là nước do sức của loài Thủy thần, Thủy quái dưới tôi.

Trời ơi! Nếu quả thật có một chút tôi điên cuồng triển hết sức mình động biển, thì, Mỵ Nương ơi, cơn đại hồng Thủy ấy sẽ biến tức khắc tất cả núi Tản, nơi đây, Phong Châu nữa, thành lãnh địa của tôi, nghìn trùng sóng vỗ, mãi mãi. Nhưng như thế để làm gì? Tôi sẽ mất em, nỗi nhớ em, lòng mong muốn hướng về em, mất hết, mất vĩnh viễn. 


Và… Lại lần nữa, tôi không thể chối bỏ được trách nhiệm của người thủ lĩnh. Người Phong Châu và mãi mãi đến sau này, lớp lớp cháu con những người thường, đời đời nguyền rủa tôi: tên chúa trùm của nạn lụt hung bạo. Người đời đã vẽ hình tôi, truyền lại cho con cháu, găm vào bia cho các tráng sĩ tập bắn, tập ném đá, cho nên ác độc, xấu xí, hung tợn dị thường. Nanh tôi mọc dài, mặt tôi xanh lét, mắt tôi ti hí gian giảo, đầu tôi úp một con ốc vặn xoắn xuýt hèn mọn. May sao… hôm nay, em vẫn nhận ra tôi, cái tôi thật là của tôi.

Đã bao lần tôi can ngăn, thậm chí có lần tôi đã van xin các bầy tôi, đàn em của mình, đừng tháng tháng năm năm, đến kỳ lại dâng nước về đất liền như thế nữa. Nhưng Mỵ Nương ơi, đến mùa ấy, những vết đau nhức của một lần hóa thân lại tấy lên dữ dội. Cơn điên khùng bệnh lý của muôn loài Thủy tộc lại kịch phát… Những ngày ấy, tôi náu mình trong biệt điện tận cùng Thủy Tinh cung, day dứt nhớ về em và tin ở những triền đê ngày càng vững chắc của Sơn Tinh.

Bây giờ thì tôi đã từ bỏ tất cả. Tôi đã quyết trả lại ngôi Chúa Biển. Tôi về đây, cố hướng mãi, cố nhỏ bé mãi con người mình đi tìm được tận đến suối nguồn này, hy vọng gặp em. Và… duyên phận đã cho tôi… Em đây rồi. Tôi đã được nói hết lòng mình, những lời phải nén sâu chôn chặt bao năm, riêng em… Thế là hết, tôi chả còn gì để nói nữa, để mong nữa. Tôi chẳng biết mình sẽ làm gì bây giờ. Chỉ biết rằng chưa chắc tôi đã có thể trở nên có ích hơn, nhưng sẽ được sống thanh thản hơn, nhẹ nhõm hơn. Lại biết đến bao giờ, đến bao giờ nữa, tôi mới có thể gặp lại em… 


– Thủy Tinh ơi… em hiểu chàng và mong chàng hiểu em. Em phải về ngay bây giờ đây. Em không thể khuyên chàng điều gì. Những thần nhân như chàng và chồng em, làm sao em lại có thể có lời khuyên. Em chỉ mong chàng đừng rời biển cả. Em chưa thấy biển bao giờ… Nhưng… nếu không có chàng thì ngọn Hỏa Tâm ấm nóng, sức sống, tiếng gọi hóa thân ở biển sẽ ở đâu, biển còn trong sạch, phóng khoáng, đẹp, quyến rũ, tràn đầy tình yêu nữa hay không? Biển có còn đáng hướng tới nữa hay không? Em không hiểu, em không biết là mình vừa nói gì nữa. Thủy Yinh ơi, đừng nghĩ là em muốn đuổi chàng, đừng nghĩ là em không muốn gặp lại chàng nữa, đừng… Nhưng, cũng đừng để em thấy như mình đã bắt đầu có lỗi, bắt đầu mang tội với… 


– Hãy bình tâm, Mỵ Nương. Tôi hiểu em hoàn toàn. Hãy trở về đi và gắng sống như đã sống. Tôi cũng vậy. Tôi sẽ nghe lời em. Còn nếu nhớ tôi, thì mỗi năm một lần, đúng tiết thu, ngày này, em hãy ở một mình và mở cửa sổ phòng riêng. Em sẽ thấy những giọt mưa đầu trong vắt thả như buông rèm trước mặt. Đó là tôi, là Thủy Tinh này. Chúng ta sẽ gặp nhau như thế. Và chỉ gặp nhau như thế.

*
Mỵ Nương đã thầm lặng, riêng tư theo lời ấy. Và đó chính là nguồn gốc của những giọt mưa thu thánh thót ngoài hiên, đem cái se lạnh gợi nhớ để tôn thêm giá trị cái ấm áp của những ai đang trong khuôn cửa. Độ phong sương trong vắt của tiết giao mùa kề bên mái ấm, thế thôi. 


Mỵ Nương mở cửa, không đừng được, đưa tay hứng một giọt mưa. Hạt nước mọng tròn đọng giữa lòng bàn tay nàng tiếp hơi ấm bàn tay, tỏa bụi nước ấm. Chút bụi trắng tinh lấp lánh giữa lòng bàn tay, Mỵ Nương đưa lên môi. Vị mặn của muối. Mỵ Nương mấp máy, gọi thầm: “Thủy Tinh! Thủy Tinh!…”. 


Những giọt mưa Thủy Tinh ấy nhỏ bé, tí xíu mà vẫn trọn vẹn mang hồn biển, nên nó rây bột muối lên cả thành cửa sổ, làm mặn cả ngoài hiên… Và, dẫu chỉ có một ngày mà khiến quanh năm vách gỗ phía đông cứ ầm ì tiếng sóng. Chỉ riêng Mỵ Nương nghe thấu tiếng sóng ngậm trong các thớ vách gỗ ấy. Hằng giờ, hằng ngày, nàng áp má vào vách gỗ phía đông ấy, nghe, mà cồn cào tưởng đến biển, mà khát khao được thấy biển một lần… 


Nàng đã không thể sống như đã sống. 


Và Sơn Tinh – thần nhân trầm tư, chắc chắn, đầy khôn ngoan và thiên lương – thấu hiểu tất cả. Chàng không mảy may thấy lạ lùng, sửng sốt. Nhưng nỗi niềm của Mỵ Nương là nỗi niềm của mỗi một người thường… Chàng chỉ thầm nhủ: “Rõ ràng bên cạnh những việc lớn bộn bề ta phải có trách nhiệm, phải để ý đến vợ ta hơn. Nàng đi đâu, chạy đến đâu, làm gì, hãy để nàng đi, nàng chạy, nàng làm, nhưng đừng để nàng thiếu ánh sáng chỉ có thể chiếu ra từ mắt ta, từ tâm não ta, ánh sáng chưa bao giờ vẩn đục, chưa một phút mờ ám. ánh sáng lúc nào cũng tinh khôi của núi, ánh sáng soi rọi mọi nẻo đường cho nàng, từ khi nàng về với ta”. 


Rồi đến một buổi sớm quang mây, Sơn Tinh thấy Mỵ Nương đứng kề bên cửa sổ, chàng đứng sau cất tiếng gọi mà không nghe nàng trả lời… Có một ngọn gió thơm mát, không từ ngoài trời thổi vào, mà vừa từ trong phòng riêng này cộn lên và bay qua cửa sổ, tung tăng bay đi, chạy đi. Mắt Sơn Tinh bừng lên, sáng trong và khoan dung, dõi theo ngọn gió thơm đang chạy. Chàng biết: người thường giao duyên với thần nhân lâu ngày thì đến lúc nào đó, hội với khát vọng, cũng đủ sức phân thân. Ngọn gió ấy chính là Mỵ Nương đấy!

Trong ánh sáng trầm tư trong như lọc của núi, ngọn gió thơm mát bay dọc theo suối, ùa tới cánh đồng rộng, vập vào những triền đê cao vững chắc – những triền đê che chắn bình yên một thời, và cũng che khuất tầm mắt một thời – ngọn gió rướn lên, bay dọc triền đê, hồ hởi ào theo những con sông tới biển.

Biển mênh mông, xanh thẳm đến tận mí trời, cợn lên những cụm hoa trắng muốt, trải đến tận bờ đón ngọn gió nhỏ. Những tiếng rì rào khe khẽ lặn vào tĩnh mịch vô biên… 


*
Người ở biển bảo tôi: 

– Đó là những ngày đẹp trời. 

    Hòa Vang, ngày 03-11-1988

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Tám 26, 2016 in Lưu, Truyện

 

Nhãn: ,

Lời phát biểu của Ngài tổng thống Obama với ND Việt Nam

Lời phát biểu của tổng thống Obama với nhân dân Việt Nam.

Bản dịch do bác sĩ Thục Quyên. Chị Thục Quyên đã nghỉ hưu, hiện sống ở Mu Nich, là một người có nhiều năm miệt mài trong các hoạt động đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Chị theo Phật Giáo, ăn chay trường. Khi chị nghỉ hưu, nhiều anh em thân thiết đã tha thiết mong chị dành thời gian để dịch những bài báo quốc tế làm tài liệu cho anh em. Chị đã đồng ý, và đây là một trong những bài dịch của chị. Hy vọng sẽ có nhiều anh em ở Đức sẽ góp phần dịch bài viết cho phong phú cùng với chị Thục Quyên.
BVN: Trong ba ngày lưu lại ở Việt Nam, từ 23 đến 25-5-2016, Tổng thống Obama đã thể hiện mình là một con người cao thượng, chân thành và rất mực nhân ái. Một nhân vật siêu đẳng không dễ ở đâu và bao giờ ta cũng may mắn được tiếp xúc, được nhìn ngắm ở một cự ly gần. Lời phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình sáng ngày 24-5-2016 là một diễn ngôn có tầm thời đại làm cả thế giới phải lắng nghe, nhưng cũng là một lời nhắn nhủ chân tình rút ra từ trái tim đôn hậu. Rất tiếc, một số báo chí quốc doanh sau đó đã dịch không đầy đủ nhưng lại lập lờ không ghi rõ là trích dịch, nên bị dư luận rộng rãi lên tiếng phản đối, coi là “lươn lẹo”.
Chúng tôi đã đọc lại diễn từ của vị Tổng thống nước Mỹ và tìm được một cách phán xét thể tình hơn. Bài diễn văn cho thấy ông Obama biết rõ mọi chuyện bê bối mà đất nước chúng ta đang oằn lưng gánh trên vai, biết rõ mọi ý nghĩ, hành vi của người đối thoại với mình như đi guốc trong ruột họ, nhưng ông đã sẵn sàng bỏ qua, và vẫn kiên nhẫn đợi chờ – cách khu xử của ông trong hội ngộ với Việt Nam lần này rõ ràng là “đi nhẹ nói khẽ”.
Chắc chắn nhà cầm quyền đã phải đọc ông rất kỹ, đọc ông để học ông mà thay đổi dần thói tệ của mình. Nhưng thay đổi ngay thì đâu đã kịp. Cho nên, một ức đoán không xa sự thật cho lắm là đã có lệnh truyền cho báo chí phải lược bỏ những chỗ mà người trên “nhá” không nổi, lại sợ bàn dân truyền nhau như nuốt vào bụng rồi bỗng… nhìn thấu tỏ chân dung mình thì chí nguy. Đó là lý do khiến ta không nên nặng lời với báo chí. Cách tốt nhất là ta cố gắng công bố những bản dịch trung thực và trọn vẹn, để người dân tự mình tìm đọc, tự mình chiêm nghiệm.
Trên tinh thần ấy, dù đã đăng một bản dịch trong ngày hôm qua, Bauxite Việt Nam vẫn trân trọng gửi đến bạn đọc bản dịch mới của dịch giả Thục Quyên, một bản dịch bám sát từng câu chữ của bản gốc do Nhà Trắng công bố gần đây.
Bauxite Việt Nam
Xin cám ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho tôi sự chào đón nồng ấm và cho tôi hưởng lòng hiếu khách của người Việt trong chuyến thăm này. Và cũng xin cảm ơn các bạn Việt Nam có mặt ở đây ngày hôm nay, những người đến từ khắp nơi trên đất nước tuyệt vời này, trong đó có rất nhiều người trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hy vọng của Việt Nam.
Trong chuyến thăm này, bản tính thân thiện đặc trưng của người Việt đã rung động trái tim tôi. Tôi cảm nhận được tình bạn giữa hai dân tộc chúng ta trong đám đông những người đứng dọc hai bên đường vẫy tay chào kèm với nụ cười. Đêm hôm qua, tôi đến thăm phố cổ Hà Nội và được thưởng thức vài món ăn Việt Nam đặc sắc. Tôi có nếm bún chả và uống bia Hà Nội. Tuy nhiên tôi phải nhận xét một điều về những con đường nhộn nhịp của thành phố này: chưa bao giờ trong đời tôi, tôi lại thấy nhiều xe máy như vậy. Tôi chưa thử đi sang đường, nhưng có lẽ sau này khi tôi trở lại thăm Việt Nam, các bạn sẽ chỉ cho tôi cách qua đường như thế nào.
Tính trong những năm gần đây thì tôi không phải là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên vừa đến tuổi trưởng thành sau cuộc chiến giữa hai quốc gia chúng ta, như số đông các bạn. Khi lực lượng quân sự Mỹ cuối cùng rời Việt Nam tôi mới 13 tuổi. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với thực thể Việt Nam cũng như với người Việt Nam là ở Hawaii, nơi tôi lớn lên, nơi có một cộng đồng đầy tự tin của người Mỹ gốc Việt.
Đồng thời hiện nay tại Việt Nam cũng có nhiều người còn trẻ tuổi hơn tôi.
Cũng như hai con gái tôi, số lớn các bạn từ  khi sinh ra chỉ biết đến một điều duy nhất: đó là nền hòa bình và quan hệ đã bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Do đó, tuy rất ý thức về quá khứ, ý thức về những khó khăn trong lịch sử chung, nhưng tôi đến đây với chủ đích hướng về tương lai, với thịnh vượng, an ninh và  nhân phẩm, là những gì chúng ta có thể cùng góp sức đẩy mạnh.
Tôi cũng đến đây với lòng kính trọng di sản cổ xưa của Việt Nam.
Từ hàng thiên niên kỷ, các nông dân đã trồng cấy trên những mảnh đất này, mà vết tích còn để lại trên trống đồng Đông Sơn. Hà Nội đã đứng vững hơn nghìn năm trong vòng ôm của dòng sông [Hồng]. Thế giới đã biết quý trọng lụa và những bức họa của Việt Nam, và Văn Miếu minh chứng cho sự trau dồi kiến thức không ngừng của dân tộc Việt. Vậy mà trải qua nhiều thế kỷ, rất nhiều khi vận mệnh của Việt Nam từng bị người khác định đoạt. Mảnh đất yêu quý của các bạn không phải lúc nào cũng thuộc về các bạn. Nhưng như cây tre, tinh thần quật cường của dân tộc Việt đã được tinh kết trong câu thơ của Lý Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành đã định tại sách trời.
Hôm nay chúng ta cũng nên nhớ lại bề dày lịch sử giữa người Việt và người Mỹ mà chúng ta thường lãng quên. Hơn 200 năm trước, vị tổ lập quốc của chúng tôi, Thomas Jefferson, khi tìm kiếm gạo giống cho trang trại của mình, đã chọn gạo Việt Nam mà ông mô tả là “nổi tiếng vừa trắng, vừa ngon, mà năng suất lại cao nhất”. Không lâu sau đó, những thuyền buôn của Mỹ đã cập cảng Việt Nam, tìm cơ hội giao thương.
Trong Thế chiến II, người Mỹ đã tới hỗ trợ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt chống lại ách đô hộ. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, người dân Việt Nam đã cứu giúp những viên phi công gặp nạn.
Và ngày tuyên bố độc lập của Việt Nam, khi người dân đổ ra khắp đường phố Hà Nội, ông Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Tự Do, và Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc”.
Vào một thời điểm khác, việc chia sẻ với nhau những giá trị nói trên và liên kết đánh đuổi thực dân có thể đã đưa chúng ta xích lại gần nhau sớm hơn. Tuy nhiên những kình địch trong Chiến tranh lạnh và nỗi lo sợ Chủ nghĩa Cộng sản đã dẫn chúng ta đến đối diện với một cuộc chiến. Và giống như tất cả mọi cuộc giao tranh trong lịch sử nhân loại, kết quả chúng ta chỉ học được một sự thật chua chát: chiến tranh dù nhắm mục đích nào cũng chỉ mang lại khổ đau và thảm họa.
Không xa nơi đây là Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, cũng như các bàn thờ tại những gia đình Việt Nam khắp nơi trong nước, vẫn đang tưởng niệm khoảng 3 triệu người, là thường dân và quân sĩ của cả hai bên đã thiệt mạng. Tại Bức tường Tưởng niệm Chiến tranh ở Washington, chúng tôi có thể chạm vào tên của 58.315 người Mỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến. Trong cả hai quốc gia của chúng ta, những cựu chiến binh và gia đình những người đã nằm xuống vẫn còn quay quắt nhớ đến nhiều bè bạn và người thương đã mất.
Người Mỹ chúng tôi đã học bài học, dù khác quan điểm nhau trong cách nhìn cuộc chiến, chúng ta vẫn luôn phải vinh danh những binh sĩ tham chiến và phải chào đón họ trở về với sự tôn kính mà họ xứng đáng được hưởng. Trong tinh thần đó, người Việt và người Mỹ chúng ta hôm nay có thể cùng nhau nhìn nhận nỗi đau và sự hy sinh cả hai bên đã phải gánh chịu.
Gần đây hơn, trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, và ngày nay, thế giới có thể nhìn rõ những thành tựu ngoạn mục của các bạn. Với những đổi mới kinh tế và hiệp định thương mại tự do, kể cả với Mỹ, các bạn đã gia nhập kinh tế toàn cầu, bán hàng ra khắp thế giới. Đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam. Và với một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á, Việt Nam đã vươn lên  thành một quốc gia thu nhập trung bình.
Chúng tôi có thể nhìn thấy sự phát triển của Việt Nam qua những tòa nhà chọc trời ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, những trung tâm thương mại và khu đô thị mới. Chúng tôi cũng thấy điều ấy qua những vệ tinh Việt Nam phóng vào không gian, và qua cả một thế hệ đang nối mạng internet để khởi nghiệp và thử hướng đi mới. Chúng tôi còn thấy nó thể hiện với hàng chục triệu người Việt Nam sử dụng Facebook và Instagram, không chỉ để đăng ảnh selfies [tự chụp], dù tôi có được nghe là các bạn hay chụp ảnh selfies lắm và cho tới giờ tôi phải nói là vô khối người đã đề nghị chụp ảnh selfies với tôi. Không chỉ thế, các bạn cũng lên tiếng vì những điều mình quan tâm, như việc cứu những hàng cây cổ thụ ở Hà Nội.
Tất cả những sự năng động đó đã đem lại tiến bộ thật sự trong cuộc sống của người dân. Việt Nam đã giảm nghèo một cách đáng kể, tăng thu nhập gia đình và nâng hàng triệu người nhanh chóng lên tầng lớp trung lưu. Đói nghèo, bệnh tật, tỷ lệ tử vong đối với bà mẹ và trẻ sơ sinh đều đã giảm. Số người được tiếp cận điện nước, số trẻ em trai và gái được đi học, tỉ lệ biết chữ, đều tăng lên. Đó là một tiến bộ phi thường mà các bạn đã làm được trong một thời gian rất ngắn.
Đi cùng với sự thay đổi của Việt Nam cũng là sự thay đổi trong quan hệ giữa hai quốc gia của chúng ta. Chúng ta đã nhận được bài học từ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh khi ông dạy: “Đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi”. Khi đó, chính cuộc chiến từng chia rẽ chúng ta lại trở thành nguồn cho vết thương liền lại.
Nó cho phép chúng ta tìm và đưa những người mất tích trở về nhà, giúp gỡ bỏ những bom mìn chưa nổ vì không thể để bất cứ đứa trẻ nào phải mất chân khi đang chơi đùa bên ngoài. Chúng tôi cũng vừa tiếp tục giúp đỡ người khuyết tật, kể cả trẻ em, vừa giúp khắc phục hậu quả của chất độc da cam – dioxin – để Việt Nam có thể tái sử dụng thêm nhiều đất. Chúng ta tự hào về công việc chung ở Đà Nẵng, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ các bạn tại Biên Hòa.
Cũng đừng quên quá trình hòa giải giữa hai nước đã được bắt đầu bởi những cựu chiến binh, những người đã từng đối mặt trong cuộc chiến. Như Thượng nghị sĩ John McCain, từng là tù nhân chiến tranh nhiều năm, khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: hai nước chúng ta không nên là kẻ thù mà nên là bạn. Hãy nghĩ tới biết bao cựu chiến binh Việt và Mỹ khác đã chung tay giúp chúng ta hàn gắn và xây dựng những quan hệ mới. Về mặt này trong những năm qua, ít ai có thể làm hơn cựu Trung úy hải quân nay là Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cũng đang có mặt nơi đây. Thay mặt tất cả, cám ơn John vì những nỗ lực phi thường của ông.
Vì những cựu chiến binh của chúng ta đã chỉ đường, vì những người từng tham chiến đã can đảm đi tìm hòa bình, nhân dân hai nước đã đến gần nhau hơn bao giờ hết. Giao thương đã tăng. Sinh viên, học giả hai nước cùng nhau học tập. Chúng tôi đón nhận sinh viên Việt Nam đến Mỹ học nhiều nhất trong các nước Đông Nam Á. Và mỗi năm du khách Mỹ đến Việt Nam càng nhiều hơn, kể cả những người “khách ba lô” Mỹ trẻ, thăm Hà Nội 36 phố phường và những cửa hàng ở Phố cổ Hội An, thăm Kinh đô Huế.
Chúng ta, Việt và Mỹ, đều có thể đồng cảm với những lời của nhạc sĩ Văn Cao: “Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người”.
Trên cương vị Tổng thống, tôi đã bắt mình nhìn vào những tiến triển đó. Với mối quan hệ đối tác toàn diện mới, Chính phủ  hai nước đang hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết. Và với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt mối quan hệ Việt-Mỹ lên một nền tảng vững chắc hơn cho nhiều thập kỷ tới. Dường như gắn bó lịch sử giữa hai quốc gia, bắt đầu từ Tổng thống Thomas Jefferson 200 năm trước, đến nay đã trọn một vòng. Chúng ta đã mất nhiều tháng năm và nỗ lực, nhưng giờ đây chúng ta có thể nói điều mà trước đây là không tưởng:  Việt Nam và Mỹ hôm nay là đối tác của nhau
Kinh nghiệm của chúng ta cũng là bài học cho cả thế giới. Ở một thời điểm mà biết bao xung đột có vẻ không thể giải quyết và dường như không bao giờ chấm dứt, chúng ta đã chứng minh là trái tim có thể đem tới thay đổi,và tương lai sẽ khác đi  nếu ta không chấp nhận làm tù nhân cho quá khứ. Chúng ta đã cho thấy rằng hòa bình tốt đẹp hơn chiến tranh, rằng tiến bộ và phẩm giá con người được phát huy tốt nhất qua hợp tác chứ không qua xung đột. Đó là những điều Việt Nam và Mỹ có thể chỉ rõ cho thế giới.
Sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam dựa trên những chân lý cơ bản.
Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, không nước nào có thể áp đặt ý muốn hoặc quyết định vận mệnh thay cho các bạn. Điều này là một mối quan tâm của Mỹ. Chúng tôi quan tâm đến sự thành công của Việt Nam. Nhưng quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta còn ở những giai đoạn đầu. Và trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, tôi muốn chia sẻ với các bạn tầm nhìn mà tôi tin là sẽ dẫn lối cho chúng ta trong nhiều thập kỷ tới.
Trước hết, chúng ta hãy cộng tác để đem lại những cơ hội thực thụ và sự thịnh vượng cho nhân dân hai nước. Chúng ta biết những chất liệu tạo nên thành công về kinh tế trong thế kỷ 21: Trong nền kinh tế toàn cầu, đầu tư và thương mại sẽ chuyển đến nơi nào có pháp quyền, vì không ai muốn phải hối lộ để được kinh doanh. Không ai muốn bán hàng hay đi học mà không biết mình sẽ được đối xử như thế nào.
Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, việc làm chỉ nảy sinh nơi con người được tư duy độc lập, được trao đổi ý tưởng và sáng tạo. Đối tác kinh tế thực thụ không chỉ là nước này đến khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước kia, mà là đầu tư vào nguồn tài nguyên lớn nhất của chúng ta, đó là con người với những kỹ năng và tài năng của họ, dù sống ở thành thị hay làng quê.
Đó chính là hình thức đối tác Hoa Kỳ đề nghị.
Như tôi đã công bố hôm qua, lần đầu tiên Đoàn Hoà Bình (Peace Corps) sẽ đến Việt Nam, tập trung vào công tác giảng dạy tiếng Anh. Sau thế hệ thanh niên Mỹ đến đây tham chiến, sẽ có một thế hệ mới đến để dạy học, xây dựng và thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Một số công ty công nghệ và học viện hàng đầu của Mỹ đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam để tăng cường đào tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học và y tế. Vì dù vẫn tiếp tục mở rộng cửa đón sinh viên Việt Nam đến Mỹ học, chúng tôi tin rằng những người  trẻ xứng đáng có cơ hội được đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế ngay tại đây, tại Việt Nam.
Và đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi rất hứng thú khi mùa thu này Đại học Fulbright sẽ khai trương ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học độc lập phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam, với nền học thuật hoàn toàn tự do, và có học bổng cho những sinh viên trong hoàn cảnh khó khăn. Sinh viên, học giả, và các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào chính sách cộng đồng, quản trị, kinh doanh, vào kỹ thuật, tin học, vào các ngành học khai phóng – văn học nghệ thuật… Tất cả, từ thơ Nguyễn Du, đến triết lý Phan Châu Trinh đến toán học Ngô Bảo Châu.
Chúng tôi cũng sẽ duy trì hợp tác với lớp người trẻ và doanh nhân, vì chúng tôi tin rằng khi có thể tiếp cận công nghệ, kỹ năng và nguồn vốn cần thiết thì không còn gì ngăn trở được các bạn, cả các bạn gái, những phụ nữ tài giỏi của Việt Nam. Chúng tôi nghĩ bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Hai Bà Trưng tới nay, những người phụ nữ mạnh mẽ và tự tin đã vẫn góp phần đưa Việt Nam đi tới. Đây là một điều hiển nhiên, khắp thế giới đi đâu tôi cũng nói điều này, rằng gia đình, cộng đồng và đất nước sẽ thịnh vượng hơn nếu phụ nữ và các em gái có cơ hội bình đẳng để thành công trong trường học, sở làm và trong cơ quan chính quyền. Đúng ở mọi nơi, và cũng đúng ở Việt Nam.
Chúng tôi cũng sẽ nỗ lực phát huy tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam qua Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP sẽ giúp Việt Nam bán ra thế giới nhiều sản phẩm hơn, đồng thời thu hút những nguồn đầu tư mới. Nhưng TPP sẽ đòi hỏi cải cách để bảo vệ người lao động, pháp quyền và sở hữu trí tuệ. Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả những cam kết.
Tôi muốn các bạn biết rằng, là Tổng thống Mỹ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP cũng vì các bạn có thể  sẽ mua thêm nhiều hàng hóa  “Made in America” của chúng tôi.
Hơn nữa tôi ủng hộ TPP vì những lợi ích chiến lược quan trọng. Việt Nam sẽ bớt phải phụ thuộc một đối tác kinh tế duy nhất, có thể mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, trong đó có Mỹ. TPP sẽ tăng cường hợp tác khu vực, giúp đối phó với sự bất bình đẳng về kinh tế, và thúc đẩy nhân quyền bằng những cải thiện lương bổng cũng như điều kiện làm việc an toàn hơn. Lần đầu tiên tại Việt Nam, có quyền thành lập công đoàn độc lập, có các quy định cấm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em. Cũng có những phương thức bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn phòng chống tham nhũng cao hơn bất cứ hiệp định thương mại nào trong lịch sử. Đó là tương lai mà TPP đem lại cho tất cả chúng ta, vì tất cả chúng ta – Hoa Kỳ, Việt Nam và các đối tác khác – sẽ bị ràng buộc bởi những nguyên tắc mà chính chúng ta đã cùng tạo dựng. Tương lai đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta cần hoàn thành nó để bảo đảm thịnh vượng kinh tế và an ninh quốc gia.
Điều này đưa đến lĩnh vực thứ hai mà chúng ta có để hợp tác, đó là bảo đảm an ninh cho đôi bên. Trong chuyến thăm này, chúng ta đồng ý đẩy mạnh thêm hợp tác an ninh và củng cố lòng tin giữa hai quân đội. Chúng tôi sẽ tiếp tục huấn luyện và cung cấp thiết bị cho lực lượng tuần duyên  để giúp nâng cao năng lực hàng hải Việt Nam. Chúng ta sẽ hợp tác cứu trợ nhân đạo khi có thiên tai. Với công bố tôi đưa ra hôm qua về việc dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí, Việt Nam có cơ hội tiếp cận những thiết bị quân sự cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia. Và nước Mỹ đang thể hiện cam kết bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Việt Nam.
Trong phạm vi rộng hơn, thế kỷ 20 đã dạy cho tất cả các quốc gia, trong đó có Mỹ và Việt Nam, rằng trật tự thế giới mà nền an ninh hỗ tương của chúng ta phụ thuộc, có nền tảng ở một số chuẩn mực và quy tắc nhất định. Mọi quốc gia đều có chủ quyền, dù nhỏ hay lớn, chủ quyền của một quốc gia phải được tôn trọng, và lãnh thổ không thể bị xâm phạm. Nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ, tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình.
Các cơ chế khu vực như ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (East Asian Summit) cần tiếp tục tăng cường. Đó là điều mà tôi tin tưởng. Mà nước Mỹ tin tưởng. Đó là quan hệ đối tác Mỹ đem lại cho khu vực này. Với lòng mong muốn phát huy tinh thần tôn trọng và hòa giải, tôi sẽ là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Lào vào cuối năm nay.
Tại Biển Đông, Mỹ không can dự vào những tranh chấp, nhưng chúng tôi sát cánh với các đối tác giữ vững những nguyên tắc cốt lõi như tự do hàng hải, tự do hàng không, giao thương hợp pháp không thể bị ngăn cản, giải quyết tranh chấp phải bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xúc tiến thêm mối quan hệ đối tác, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vận hành máy bay, tàu thủy đến hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, và ủng hộ quyền của tất cả các nước được làm như vậy.
Ngay cả khi chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn trong những lĩnh vực tôi vừa miêu tả, quan hệ đối tác của chúng ta còn có thành tố thứ ba – liên quan tới những bất đồng còn tồn tại giữa hai Chính phủ, trong đó có vấn đề nhân quyền.
Tôi không ám chỉ riêng Việt Nam. Không quốc gia nào hoàn hảo cả. Qua hai thế kỷ, nước Mỹ cũng vẫn phải nỗ lực hầu mong đạt được những lý tưởng chính chúng tôi đã đề ra khi lập quốc. Chúng tôi vẫn đang đối phó với những hạn chế của mình như, tiền bạc chi phối chính trị, gia tăng bất bình đẳng kinh tế, phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp, phụ nữ vẫn chưa được hưởng mức lương cao như nam giới.
Chúng tôi vẫn còn nhiều vấn đề, và tôi cam đoan, chúng tôi không miễn nhiễm với chỉ trích. Tôi vẫn nghe chỉ trích mỗi ngày. Nhưng sự giám sát đó, tranh luận cởi mở, đối mặt với khiếm khuyết của mình, cho người dân có tiếng nói, giúp chúng tôi vững mạnh hơn, thịnh vượng hơn, và công bằng hơn.
Như tôi đã nói, Mỹ sẽ không tìm cách áp đặt mô hình Chính phủ của mình lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nhắc tới [tôi tin rằng] không chỉ của Mỹ, mà là những giá trị phổ quát, được nêu trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền. Những giá trị này cũng được viết trong Hiến pháp của nước  Việt Nam: Người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền lập hội, và quyền biểu tình. Tất cả những điều này đều nằm trong Hiến pháp của Việt Nam.
Thật vậy, đây là vấn đề liên quan đến tất cả chúng ta, mỗi quốc gia, phải luôn cố gắng áp dụng những nguyên tắc đó, đảm bảo rằng chúng ta, những người giữ chức vụ trong chính quyền, đang trung thành với những lý tưởng đó.
Trong những năm gần đây, Việt nam đã đạt được một số tiến bộ. Việt Nam đã cam kết sửa đổi luật pháp cho phù hợp với Hiến pháp mới của mình và với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo những luật mới ban hành, Chính phủ sẽ công khai hóa ngân sách nhiều hơn và người dân có quyền tiếp cận thông tin nhiều hơn. Như tôi cũng đã nhắc tới, Việt Nam đã cam kết cải cách kinh tế và lao động theo TPP. Như vậy, tất cả đều là những bước tiến tích cực.
Cuối cùng thì tương lai của Việt Nam sẽ được quyết định bởi người Việt Nam. Mỗi quốc gia sẽ vạch ra đường đi của riêng mình, vì hai quốc gia chúng ta có những truyền thống khác biệt, hệ thống chính trị cũng như văn hóa khác biệt.  Nhưng là một người bạn của Việt Nam, xin cho phép tôi chia sẻ quan điểm của mình:  tại sao tôi tin rằng các quốc gia sẽ thành công hơn khi những giá trị phổ quát được duy trì.
Khi có tự do biểu đạt và tự do ngôn luận, và khi người dân có thể chia sẻ ý tưởng cũng như tiếp cận Internet và mạng xã hội mà không bị ngăn cấm, điều đó sẽ thúc đẩy đổi mới, nhiên liệu cần thiết để nền kinh tế phát triển mạnh. Đó là môi trường đưa tới sáng tạo. Facebook đã hình thành như vậy. Một số các công ty lớn của chúng tôi đã bắt đầu như vậy – Vì một người nào đó có một sáng kiến mới, khác lạ. Và người đó được quyền chia sẻ nó.
Khi có tự do báo chí, khi các nhà báo và blogger có thể rọi sáng những bất công, lạm dụng, thì quan chức sẽ phải chịu trách nhiệm và xã hội sẽ thêm niềm tin vào hệ thống chính trị đang vận hành tốt.
Khi ứng cử viên được tự do tranh cử và vận động, cử tri được chọn lãnh đạo qua bầu cử tự do và bình đẳng, quốc gia sẽ ổn định hơn khi người dân biết tiếng nói của mình có tác dụng, và một sự thay đổi ôn hòa là có thể.  Như thế, sẽ có thêm người gia nhập vào hệ thống.
Khi có tự do tôn giáo, không những con người có dịp hoàn toàn biểu lộ tình thương và lòng từ bi là cốt lõi của mọi tôn giáo lớn, mà những cộng đồng tôn giáo còn có thể cống hiến nhiều hơn cho xã hội qua những hoạt động giáo dục và y tế, chăm lo những người nghèo và những người bị thua thiệt trong xã hội.
Khi có tự do lập hội, khi người dân được tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự, thì quốc gia có thể đối đầu với nhiều vấn đề mà đôi khi Chính phủ không thể giải quyết một mình.
Do đó theo quan điểm của tôi, thượng tôn các quyền này không đe dọa mà thật ra củng cố sự ổn định, làm nền tảng cho tiến bộ.
Cuối cùng, chẳng phải các dân tộc, trong đó có Việt Nam, khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đều là để đòi các quyền đó sao? Tôi tin rằng nâng cao các quyền đó chính là thể hiện hoàn hảo nhất sự độc lập mà biết bao người trân trọng, kể cả ở đây, một đất nước với tuyên ngôn là “của dân, do dân, vì dân”.
Việt Nam sẽ làm khác Mỹ. Và mỗi chúng ta sẽ làm khác các quốc gia trên thế giới. Nhưng đây là  những nguyên tắc cơ bản mà tôi nghĩ chúng ta nên cố gắng áp dụng và cải thiện.
Vì sắp kết thúc nhiệm kỳ, tôi có lợi thế đã từng suy nghiệm suốt 8 năm về cách hệ thống của chúng tôi đã vận hành và tương tác với các quốc gia trên thế giới ra sao, những quốc gia cũng đang không ngừng cố gắng cải thiện hệ thống của họ.
Sau hết, tôi nghĩ quan hệ đối tác sẽ giúp chúng ta đối phó với những thách thức toàn cầu mà không nước nào có thể giải quyết một mình. Nếu chúng ta muốn bảo đảm sức khỏe của người dân và vẻ đẹp của hành tinh này, thì tăng trưởng phải mang sắc thái ổn định và bền vững. Những kỳ quan thiên nhiên như vịnh Hạ Long và hang Sơn Đoòng phải được bảo tồn cho các thế hệ con cháu chúng ta.
Mực nước biển dâng cao đang đe dọa những bờ biển, thủy lộ, nguồn sống của biết bao người dân Việt. Vì vậy, là đối tác trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, chúng ta cần phải tuân thủ những cam kết vừa ký ở Paris. Chúng ta phải giúp đỡ nông dân, ngư dân và những làng mạc sống dựa vào nghề chài lưới để họ có thể thích ứng với tình hình, và phải mang thêm năng lượng sạch đến những nơi như đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của thế giới mà chúng ta cần để nuôi sống những thế hệ tương lai.
Thật là một điều đáng chú ý là hai quốc gia chúng ta đã từng đối địch với nhau, nay lại sát cánh bên nhau giúp các quốc gia khác tiến đến hoà bình. Như vậy quan hệ đối tác của chúng ta không những song phương mà còn cho phép chúng ta định hình môi trường quốc tế theo những cách tích cực.
Để tầm nhìn như tôi đã trình bày hôm nay hoàn toàn trở thành hiện thực, mọi chuyện sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều, và cũng không phải chuyện nào cũng là tất yếu. Có thể có những vấp váp, thụt lùi trên các chặng đường. Sẽ có những lúc hiểu lầm nhau. Cần phải không ngừng cố gắng và đối thoại thực sự mà cả hai bên đều chấp nhận sẵn sàng thay đổi. Nhưng nhìn lại lịch sử và tất cả những rào cản mà chúng ta đã vượt qua, tôi đứng đây trước các bạn ngày hôm nay, với một sự lạc quan rất lớn về tương lai chung của chúng ta.
Niềm tin của tôi, như thường lệ, có nguồn gốc từ tình bạn và khát vọng chung của hai dân tộc.
Tôi nghĩ tới những người Mỹ và Việt đã vượt trùng dương, có những người được đoàn tụ với gia đình lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, và họ đang dang tay, mở rộng trái tim và nhìn thấy cả nhân loại trong nhau, nối vòng tay lớn, như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài hát của mình.
Tôi nghĩ tới những người Mỹ gốc Việt đã thành công trong mọi lĩnh vực, những bác sĩ, nhà báo, thẩm phán, công chức … Một người trong số họ, sinh ra ở đây, đã viết cho tôi một lá thư nói rằng “nhờ ơn Chúa, tôi đã được sống giấc mơ Mỹ. Tôi rất tự hào là một người Mỹ nhưng tôi cũng rất tự hào là một người Việt Nam”. Hôm nay ông ta đang ở đây, trở lại mảnh đất nơi mình sinh ra, vì ông ta nói “khát vọng của tôi là nâng cao đời sống của từng người dân Việt”.
Tôi nghĩ tới một thế hệ người Việt mới – các bạn, những người trẻ đang ngồi đây – những người đang sẵn sàng để lại dấu ấn của mình trên thế giới. Và tôi muốn nói với tất cả những bạn trẻ đang lắng nghe: Với tài năng, trí thông minh, và những ước mơ của các bạn, Việt Nam đã có sẵn trong tay tất cả những gì cần thiết để phát triển và thịnh vượng.
Vận mệnh nằm trong tay các bạn. Đây là thời điểm của các bạn.
Và trong khi các bạn theo đuổi tương lai mà các bạn muốn, tôi muốn các bạn biết rằng nước Mỹ sẽ ở ngay bên cạnh các bạn, như một đối tác, và một người bạn.
Nhiều năm sau này, khi càng có nhiều người Việt và người Mỹ cùng nhau học tập, sáng tạo và kinh doanh chung, cùng nhau bảo vệ an ninh, phát huy quyền con người và chung sức bảo vệ hành tinh của chúng ta, tôi mong các bạn nhớ về khoảnh khắc này khi tôi chia sẻ tầm nhìn của tôi với các bạn.
Hay là nói một cách khác, với những câu Kiều  mà các bạn quá thân thuộc:
Rằng trăm năm cũng từ đây
                             Của tin gọi một chút này làm ghi.
Cam on cac ban.  Thank you very much.  Thank you, Vietnam.  Thank you.
T.Q. dịch
Mãi mới có bản dịch gốc chuẩn, Bài phát biểu tuyệt vời! Cảm ơn ngài Obama!
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Sáu 2, 2016 in Lưu

 

Nhãn:

Đổi mới thể chế: Tiếng gọi cấp thiết của thời đại *

Con tầu mới cần phải có tài xế mới và đường ray mới

(Dân trí) – Chúng ta đang phải đứng trước hai sự lựa chọn. Một là đổi mới thể chế kinh tế để phát triển như ý kiến của nguyên Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Hai là sẽ tiếp tục “tụt hậu, bị bỏ lại rất xa” như lời của ông Vịnh.
 >> Không cải cách, Việt Nam sẽ còn tụt hậu rất xa
 >> “Đổi mới thể chế”, giã từ “đường ray cũ”…?


(Minh họa: Ngọc Diệp)

(Minh họa: Ngọc Diệp)

Một lần nữa, vấn đề đổi mới thể chế kinh tế để phát triển đất nước lại được đặt ra ngay sau kỳ bầu cử Quốc hội XIV. Đây là vấn đề không mới bởi cách đây 2 năm (10/2014), trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại nghị trường Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh đã đề nghị. “Chúng ta phải đổi mới thể chế, pháp luật, chứ không thể dùng lời khuyên, mong muốn để thay đổi”.

Lý giải cho yêu cầu này, Bộ trưởng Vinh nói: “Không đổi mới cán bộ không đổi mới được nền kinh tế, vì các chuyên gia quốc tế nói rằng, nếu ông đổi mới doanh nghiệp Nhà nước mà vẫn để nguyên những cán bộ đã từng sinh ra những doanh nghiệp đó, lãnh đạo doanh nghiệp đó thì hôm nay họ không tự chặt chân mình đâu. Phải có người khác đến đổi mới. Cho nên, đổi mới cán bộ cũng là một yếu tố phải tác động mới làm đổi mới được…”.

Vừa qua, tại phiên Hội thảo quốc tế xung quanh bản báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” mang tên “Khát vọng Việt Nam 2035” do Phòng Công nghiệp & Thương mại Việt Nam tổ chức, vấn đề đổi mới thể chế lại tiếp tục được đặt ra, lần này, bắt đầu từ đòi hỏi của cuộc sống.

Phát biểu trong hội thảo, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Công nghiệp & Thương mại Việt Nam đã nói thẳng “Thể chế nào doanh nghiệp đó. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Doanh nghiệp và doanh nhân không chỉ là kết quả của thể chế mà còn là động lực cải thiện, thay đổi thể chế, đây là một mối tác động hai chiều”.

Đây cũng là ý kiến không mới (trong nghề báo cũng có câu tương tự “tổng biên tập nào, tờ báo ấy”), song có lẽ ở ta không phải ai cũng hiểu sâu sắc điều này.

Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN), bản báo cáo viết: “Việc thiên vị các DNNN, hoặc doanh nghiệp khác là do có quan hệ thân hữu với nhà nước. Chính thực tế đó đã làm giảm khả năng của cơ quan Nhà nước trong việc ban hành các quy định phù hợp với nguyên tắc quản lý kinh tế lành mạnh”.

Bàn về nội dung này, ông Nguyễn Văn Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, nếu như vào Thế kỷ 19, kinh tế Việt Nam ngang bằng, thậm chí vượt nhiều quốc gia trong khu vực.

Thế nhưng ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tụt hậu, bị bỏ lại rất xa. Nguyên nhân nằm ở đâu? Chính là những bất cập về thể chế. Do vậy, nếu không cải cách thể chế thì Việt Nam còn bị bỏ xa hơn nữa.

“Ta đang rơi vào tình trạng trì trệ và cần phải có sự thay đổi. Những nhân tố tăng trưởng đang có xu hướng giảm, năng suất bình quân lao động gia tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn. Năng suất lao động giảm thì sức cạnh tranh yếu đi, làm cho kinh tế trì trệ không phát triển được”. Ông Vịnh nói.

Qua những nhận xét trên, có cảm giác như chúng ta đang phải đứng trước hai sự lựa chọn. Một là đổi mới thể chế kinh tế để phát triển như ý kiến của nguyên Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Hai là sẽ tiếp tục “tụt hậu, bị bỏ lại rất xa” như lời của ông Vịnh.

Nhớ lại lời phát biểu của ĐB Trương Trọng Nghĩa cũng về vấn đề này ngày 31/10/2014 tại nghị trường Quốc hội: “Ta vẫn đang chạy trên đường ray cũ thì làm sao nhìn thấy chân trời mới”.

Một câu nói rất ấn tượng bằng một hình ảnh cũng rất ấn tượng. Con tầu mới cần phải có tài xế mới và đường ray mới. Nếu như một trong ba yếu tố trên mà vẫn duy trì như cũ thì “làm sao nhìn thấy chân trời mới”?

Có lẽ chính vì thế mà ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã “mở hàng” bằng cuộc gặp gỡ doanh nhân với cam kết Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để khởi nghiệp kinh doanh, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển cả về số lượng và chất lượng; đề ra các giải pháp xây dựng thể chế nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cũng như giải quyết các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp.

Bùi Hoàng Tám

* Tiêu đề tự đặt

Nguồn: http://dantri.com.vn/blog/con-tau-moi-can-phai-co-tai-xe-moi-va-duong-ray-moi-20160601041427156.htm

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Sáu 1, 2016 in Lưu

 

Nhãn: