RSS

Chu Hảo – một nhà trí thức đúng nghĩa

Bài Đặc biệt: CHU HẢO – MỘT TRÍ THỨC ĐÚNG NGHĨA

Chu Hảo – một trí thức đúng nghĩa

Nguyễn Ngọc Lanh
Nước ta hiếm trí thức “đúng nghĩa”?
Trong cuộc thảo luận năm 2007 về đề tài trí thức do báo VietnamNet khởi xướng – được rất nhiều người tham gia – có một bài đăng ở báo này, nhưng nay không tìm được nữa (bị mất, do vụ báo bị harker tấn công); nhưng may mắn… nó được tờ báo của Liên Hiệp Hội Khoa Học VN (VUSTA) đăng lại nguyên văn. Nguyên văn từ nhan đề (Trí thức ngày càng đông, nhưng càng… không đúng nghĩa), nguyên văn nội dung và giữ nguyên cả lời dẫn của tòa soạn. Chính là cái “lời dẫn” này đã gây tò mò tới tận hôm nay.
Cũng chính hai chữ “đúng nghĩa” của bài là cảm hứng để hôm nay bài Chu Hảo một trí thức đúng nghĩa này được viết ra. Cân nhắc rồi. Nếu thay “đúng nghĩa” bằng “chân chính”, “đích thực”, “khí phách”, “cương trực” hoặc gì gì khác… vẫn chưa thật căn bản. Bởi vì, những mỹ từ đó đều bắt nguồn từ định nghĩa mà ra. Nói khác, muốn xét một nhân vật có là trí thức hay không, phải dựa vào định nghĩa. Và phải là định nghĩa gốc. Đó là cái định nghĩa ra đời từ một khái niệm hình thành từ hàng trăm năm trước (1906). Về sau, xuất hiện rất nhiều định nghĩa – tuy khá dài dòng trong các từ điển tiếng Việt – vẫn không thể hiện được bản chất trí thức. Chỉ vì chúng không xuất phát từ gốc. Chính là từ định nghĩa gốc, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… tuy bằng cấp chưa cao, vẫn cứ là trí thức. Cũng từ định nghĩa gốc, mà nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà báo… – nạn nhân vụ Nhân văn – Giai phẩm – vẫn đường đường là những trí thức.
Cái tên bài Trí thức ngày càng đông, nhưng càng… không đúng nghĩa đã gợi tò mò. Chả lẽ, hàng triệu con người đã qua đào tạo – trên các văn bản chính thức đều được gọi là “trí thức” – lại chưa đúng nghĩa? Đọc thử “cái chơi”, sự tò mò còn nằm ngay trong lời dẫn của VietnamNet: “bài thể hiện quan niệm của cá nhân tác giả“. Hóa ra, tòa báo cũng sợ. Tò mò đọc tiếp ít dòng, phát hiện ngay một câu rất… liều mạng. Người viết cứ xưng xưng khẳng định “Từ một nền kinh tế tiểu nông chỉ có thể mọc lên chế độ vua quan“. Không chỉ là chuyện đời xửa, đời xưa; mà là ngay đời nay. Khi có tới 3/4 hoặc 2/3 dân ta vẫn sản xuất bằng con trâu, cái cày, thì chế độ ta hiện nay – về bản chất – vẫn chỉ là chế độ vua quan. Đoạn sau, còn đưa ra các bằng chứng và kết thúc bằng “vân vân”…
Bài khởi đầu cuộc thảo luận: Chính là của Chu Hảo
Đó là bàiTrí thức nước nhà mạnh hay yếu?đăng ngày 12–1–2007. Có thể coi đây là cái mốc. Mốc về sự về nhận thức (đã đến lúc cần phân biệt rạch ròi “trí thức” với lao động trí óc – dù là bậc cao). Mốc về sự chuyển biến trong hành xử. Chu Hảo và những người tham gia thảo luận đều ít nhiều hy vọng cuộc thảo luận sẽ tác động “lên cao” để sau đó họ được phép (chưa nói tới “có quyền”) hành xử như một trí thức. Và còn muốn xã hội có một lớp trí thức… Hình dưới đây gợi nhớ về ngày ấy.
Trí thức nước nhà mạnh hay yếu?
Cập nhật lúc 03:58, Thứ Sáu, 12/01/2007 (GMT+7)
,
(VietNamNet) – Trong lịch sử nước nhà, mỗi thắng lợi vang dội đều là kết quả của nguồn lực tổng hợp toàn dân tộc, và trên mỗi chặng đường đều có dấu ấn để lại của những trí thức, kể cả từ rất xa xưa như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Du… Để thành công trong cuộc hội nhập khốc liệt hiện nay, chúng ta lại càng phải chân nhận rõ những giá trị quý giá của dân tộc. Báo Điện tử VietNamNet cùng tạp chí Khoa học và Tổ quốc sẽ cùng phối hợp mở cuộc thảo luận với chủ đề “Trí thức Việt Nam”.
Để mở đầu cuộc thảo luận, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của PGS. TS. Chu Hảo.
Tới đây, chỉ xin nói thêm một câu: Cuộc thảo luận này được thực hiện khá sớm kể từ khi Chu Hảo nghỉ hưu.
Giới lãnh đạo và quản lý nghĩ gì khi đó (2007)?
Cuộc thảo luận do Chu Hảo nêu vấn đề đã được nhiều người đáp ứng, kèm theo là rất nhiều comments. Nhiều tác giả là người Việt đang sống ở nước ngoài. Nhiều tờ báo khác cũng có bài riêng, hoặc rinh từ VietnamNet về đăng lại… Nhưng nó tác động tới cấp lãnh đạo và quản lý thời đó ra sao (ví dụ, tới ông Tổng Bí thư và ông Bộ trưởng Bộ TT–TT)? Nay, coi lại việc làm, thái độ và khẩu khí của các vị này… thì té ra, các vị sẽ từ chối mình là trí thức. Hơn nữa, các vị rất lo trí thức thiếu trật tự, dễ lộn xộn. Cần phải xếp trí thức thành đội ngũ và tự do ngôn luận trong phạm vi cái “lề phải” được ấn định.
Dưới đây, xin sơ lược vài nét tóm tắt.
– Đầu thế kỷ XX, cái tính từ intellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) được một nhà báo dùng như danh từ – để chỉ một loại người có phẩm chất cao quý. Như vậy, đây là danh từ mới toanh, chưa có trong bất cứ đại từ điển nào. Đó là năm 1906. Người đầu tiên xứng đáng có danh hiệu Intellectuel là nhà văn Zola. Vậy từ nay, phải có đủ phẩm chất như Zola, thì một lao động trí óc bậc cao mới được gọi là Intellectuel.
– Thời đó, các học giả Nhật và Trung Quốc dịch intellectual là “phần tử tri thức” – về nghĩa, vẫn chỉ là người có học vấn cao, hoặc học giả… có mặt khá đông đảo trong xã hội. Nhà văn Zola cũng vậy,nhưng ông còn mộtphẩm chất khác: Đó là sự dấn thân chống lại cái xấu, bảo về chân lý và cảnh tỉnh xã hội. Khải niệm “trí thức” hình thành.
Thật là đáng khâm phục, khi các cụ nhà ta đã dịch intellectuel là “trí thức” mà không thèm dùng từ ngữ có sẵn từ bên Tàu, bên Nhật. “Trí” thì rõ rồi (điều kiện cần); nhưng tuyệt vời là ở cái chữ “thức” (điều kiện đủ). Nghĩa gốc, cũng như nội hàm của “trí thức” (intellectuel) là từ đây mà ra. Sau đó, con cháu các cụ cứ dần dần hiểu sai, tầm thường hóa cái từ “trí thức”, thậm chí cố ý bóp méo nội hàm của “trí thức”. Do vậy mới có chuyện Trí thức ngày càng đông, nhưng càng… không đúng nghĩa.
– Nguyên nhân và điều kiện nào? Trước hết, đó là do sự giản đơn, tùy tiện và bị thua số đông (dân trí thấp) mà coi coi trí thức chỉ là người có học vấn cao. Thêm nữa, do từ 1930 đảng ta tiếp thu thứ lý luận cách mạng không coi trọng vai trò của trí thức (lại còn kỳ thị, cảnh giác với họ) – mà coi lao động cơ bắp mới là động lực cách mạng. Và cuối cùng, hai nguyên nhân trên càng phát huy hiệu lực trong điều kiện ý thức hệ phong kiến được hình thành từ xa xưa trên nền kinh tế tiểu nông mênh mông ở nước ta.
– Một trăm năm sau, năm 2007 – khi có cuộc thảo luận về trí thức – Tổng Bí thư là cụ Nông Đức Mạnh. Cụ này, khi khai lý lịch – dù bản thân đã có bằng kỹ sư của Nga – vẫn tự khoe mình là… “công nhân”. Có lẽ, cụ muốn dùng chính mình làm ví dụ để đánh bại luận điệu “công nhân không thể lãnh đạo cách mạng”. Nhưng cũng do vậy – ở cương vị Tổng Bí thư – cụ chưa bao giờ tỏ ra bận tâm chuyện làm rõ khái niệm “trí thức”, mà muốn lưu danh bằng cái Nghị Quyết về trí thức – do chính cụ ký để ban hành – trong đó coi bất cứ ai có tấm bằng từ Cao đẳng trở lên đều là trí thức (!). Ngoài ra, cụ còn ký Nghị Quyết về công nhân nữa. Tất cả, hai đối tượng này đều được đặt trong đội ngũ
– khi được xếp vào đội ngũ, công nhân thấy vinh dự. Hy vọng rất nhiều. Nhưng trên thực tế, cuộc sống cứ khốn khổ, họ buộc phải quan tâm tới quyền bãi công mà quên béng sứ mạng lãnh đạo cách mạng. Họ phó mặc cho đội tiên phong của họ làm tuốt.
Còn trí thức? Dẫu đang là trí thức “đúng nghĩa”, chỉ cần bước một chân vào “đội ngũ” thì sẽ… hết đúng nghĩa. Bởi lẽ, đứng trong đội ngũ đồng nghĩa với răm rắp nghe lệnh. Liệu còn dám ho he phản biện?
– Vị Bộ trưởng Bộ 4T (quản lý báo chí, ngôn luận) cách nay 11 năm là cụ Lê Doãn Hợp. Qua việc làm và lời nói, nhiều người thấy vị Bộ trưởng này cũng thật sự muốn để lại “cái gì đó” trong sự nghiệp của mình. Thế thì, cả nước từng biết cụ này là tác giả độc quyền của cụm từ “lề phải, lề trái” dành cho nhà báo nói riêng (dưới quyền cụ) và trí thức nói chung. Đáp lại, Tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn(người dám tổ chức cuộc thảo luận nói trên) nói toạc rằng: “Lề của tôi chính là bạn đọc, là nhân dân và những người kỳ vọng và đặt niềm tin vào mình“. Đây là hành động dũng cảm, nhưng chưa phải là phản biện. Đó chỉ là nói khác, chứ chưa phải tranh cãi đúng, sai.
Còn cái câu của cụ Bộ trưởng “dân trí đến đâu, dân chủ đến đấy“: Hy vọng nó sẽ trường tồn. Dân trí đến nay vẫn thấp (sau ngần ấy năm) thì mức hưởng dân chủ cũng chỉ “vậy vậy” thôi. Còn Chu Hảo, dùng nhà xuất bản Tri Thức để nâng cao dân trí lại đang gặp phiền toái. Hai cụ này đều là tiến sĩ, một cụ là trí thức.
Tôi hưởng ứng cuộc thảo luận
Đọc bài của Chu Hảo, tôi rất thích, nhưng thấy chưa nên vội bàn chuyện làm thế nào để “trí thức nước nhà mạnh lên” mà trước hết cần phải làm rõ “thế nào là trí thức” cái đã. Thật ra, trí thức giúp đất nước có thể hội nhập bình đẳng và hiệu quả (theo bài đề xướng của Chu Hảo) chỉ là gián tiếp. Vai trò căn cốt và vĩnh viễn của họ là dùng phản biện để ngăn chặn sự tha hóa quyền lực, đồng thời nâng cao dân trí. Do vậy, bài đầu tiên hưởng ứng Chu Hảo là bài Suy nghĩ về khái niệm trí thức. với lời giới thiệu của tòa soạn: …Tác giả đã gửi loạt bài, VietNamNet xin đăng dưới đây bài đầu tiên trong loạt bàiđó”
Cũng dịp này, trong một cuộc phỏng vấn của báo Dân Trí, Chu Hảo đưa ra một câu (vừa chắc nịch, vừa đơn nghĩa, không thể hiểu sai): Không có tư duy phản biện, không phải là trí thức!Khỏi cần dài dòng “thế nào là trí thức”. Cũng khỏi cần dài dòng cắt nghĩa, tại sao Chu Hảo chính là một trí thức đúng nghĩa.
Xin minh họa thêm bằng bài Đã đến lúc cần phải đối thoại (2016) của ông. Nó rất đáng được đọc lại trong dịp ông thoái đảng.
Nói thêm: “trí thức” trong hệ thống quyền lực
Quan lại của chế độ phong kiến không thể là trí thức. Can đảm lắm, một ông quan mới dám khúm núm can vua. Khí tiết lắm mới dám “treo ấn, từ quan”. Khi bị oan ức, chỉ mong có ngày thánh thượng hồi tâm. Đã làm giặc (như Tống Giang) vẫn mong vua chiêu hồi và tha tội… Đó là xã hội thần dân (thần: là tôi tớ; quan tự xưng với vua là “kẻ hạ thần”, hoặc tự xếp là “bề tôi”). Khái niệm “phản biện” chưa thể sinh ra. Thời nay nhìn lại, chế độ vua quan không tốt đẹp, nhưng vẫn có nhiều minh quân, hiền thần… xứng đáng được ghi danh trong sử sách.
Sang xã hội công dân thì khác. Nó đủ điều kiện để lớp trí thức – với sứ mệnh phản biện xã hội – được sinh ra. Nhưng trong hệ thống quyền lực, thì nguyên tắc vẫn là cấp dưới tuân lệnh cấp trên – dù ở thời nào, ở nước nào cũng vậy. Phải như thế mới khỏi… loạn. Bà Hillary tranh chức ứng cử viên tổng thống với ông Obama (trong nội bộ đảng Dân Chủ), bà cứ việc cãi nhau kịch liệt với đối thủ. Nhưng khi bà đã đồng ý làm Bộ trưởng Ngoại giao, bà phải răm rắp theo tuân lệnh của Tổng thống Obama.
Chu Hảo cũng vậy. Khi còn là Thứ trưởng, ông phải chấp hành ý kiến Bộ trưởng và các cấp cao hơn. Cái tài, cái tâm là ông thuyết phục được các cấp trên cho phép mình thực hiện dự định để nay trở thành một trong những người có công lớn đưa Internet vào nước ta ở thời điểm sớm nhất. Chất trí thức trong con người này đã sớm xuất hiện và nảy mầm mạnh mẽ, nhưng ông chưa chính thức là trí thức. Và ông càng chưa thể mở đầu cuộc thảo luận về trí thức khi chưa thôi biên chế – mà là “rất sớm sau ra khỏi biên chế”.
Biết – Quen – Hiểu: Càng khâm phục
Cuối năm 2015, tôi nhận được điện thoại, tự xưng danh là Chu Hảo. Nghĩ bụng: Tôi biết ông từ lâu rồi ạ! Lòng khâm phục và sự đồng cảm vẫn nguyên vẹn. Té ra, ông thuyết phục tôi nhận giải thưởng của quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (về nghiên cứu). Thế là tôi phải tìm hiểu Quỹ này cái đã. Khi thấy mục tiêu cao cả của nó và nó đã hàng chục năm trao giải, tôi càng khâm phục Chu Hảo gấp bội khi biết ông là một trong vài ba vị sáng lập. Nhân tiện, Chu Hảo gợi ý tôi ký vào một cái bản “Kiến nghị” gì đó. Tất nhiên, tôi xin được xem trước. Thì ra, hầu hết nội dung của nó vừa hợp với suy nghĩ bấy lâu của tôi, lại vừa được trình bày rất ôn hòa, thẳng thắn, đàng hoàng. Trước đó khá lâu, tôi đã viết bài tỏ ý không muốn tên nước là “xã hội chủ nghĩa”, thì nay bản Kiến nghị cũng đề nghị quốc hiệu trở lại cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rồi kiến nghị cũng đề cấp tới nguy cơ lệ thuộc vào Trung Quốc – như tôi đang lo lắng… Còn mấy cuốn sách rất bổ ích của nhà xuất bản Tri Thức, té ra do Chu Hảo làm giám đốc. Thế thì… ký phắt!
Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về “tội” của Chu Hảo
Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận rằng:Ông Chu Hảo đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vi phạm, khuyết điểm của ông Chu Hảo là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.
– Nói về suy thoái tư tưởng chính trị. Thế thì… nếu làm theo những gì Mác viết hẳn là “không suy thoái” mà còn là vững vàng. May quá, Mác đã tóm tắt toàn bộ chủ thuyết của mình bằng một câu. Vâng, nhõn một câu – cực dễ hiểu. Đó là: Xóa bỏ tư hữu. Đảng đã tước đoạt tư hữu (đúng như Mác dạy) trong Cải cách ruộng đất và Cải tạo tư sản. Rồi sau năm 1986 lại làm ngược lại: Cố gây dựng giai cấp tư sản. Vậy có phải là suy thoái?
Ngày nay nhân loại coi tư hữu là quyền con người (để nó khác con vật). Vậy, nỡ nào Mác tước bỏ cái quyền cơ bản này khiến con người hết là… con người?
Chính Chu Hảo – rất thông thạo ngoại ngữ để đọc Mác – rơi vào cái hoàn cảnh không thể cứ nhất nhất làm theo mọi điều Mác dạy.
– Nói về cái tội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Chu Hảo. Khốn nỗi, quy mô và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong phạm vi rộng lớn nhất và sâu xa nhất chính là cơ quan đầu não của đảng – nơi đưa ra đường lối. Nhưng tôi lại hoàn toàn tán thành và khâm phục cái tội tự diễn biến này. Và mừng cho đảng ta nhiều lần thoát hiểm chính là nhờ biết “tự diễn biến” khi chưa muộn – ví dụ, đảng công nhận nhiều quyền tư hữu, công nhận doanh nghiệp tư nhân, công nhận kinh tế thị trường… và sẽ công nhận xã hội dân sự… Toàn là làm trái lời Mác dạy. May, Mác không cách nào hiện về để mắng mỏ đảng ta. Nhưng Chu Hảo lại bị đảng mắng mỏ chỉ vì ông… vẫn còn là đảng viên. Tuy nhiên, phải là đảng viên, ông mới xin được giấy phép thành lập NXB Tri Thức, mới lập được Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh… và nhiều việc có ích khác cho dân, cho nước. Nhưng ông cũng giúp đảng hạn chế tốc độ mất niềm tin từ dân. Tôi không làm nổi 1% những gì Chu Hảo đã làm. Thế, lại được yên thân.
Nếu ông bỏ đảng, lập tức đảng chẳng còn tư cách gì kết tội ông nữa. Về đạo đức cá nhân, ông là người lương thiện, trong sạch, dân không bắt tội mà còn khen.
Ở lại đảng hay bỏ đảng là quyền Chu Hảo. Miễn ai khen hay chê một cách vô lối.
Chu Hảo rất khác với các đồng chí đảng viên dùng quyền lực để tham nhũng và đàn áp dân. Chính các đồng chí này mới không dám bỏ đảng. Nhưng sẽ rất nguy hiểm cho đảng ta, nếu các đồng chí này cứ lẵng nhẵng bám đảng, dùng đảng để ngụy trang những hành vi xấu xa.
Đảng bắt đầu trừng trị một đảng viên là trí thức “đúng nghĩa”?
– Luật chống tham nhũng được ban hành từ thời cụ Nguyễn Tấn Dũng mới chập chững làm Thủ tướng. Đảng khẳng định: Nếu không chặn được tham nhũng thì đảng hết cơ tồn tại. Ấy thế mà chỉ “đấy với đấy” tham nhũng đã cấu kết thành đội ngũ; đã leo tới tận Bộ Chính trị (tiên phong là đồng chí Đinh La Thăng) và lan rộng tới mọi ngõ ngách – cụ Nguyễn Phú Trọng gọi là “tham nhũng vặt”. Cứ như chính cơ chế này sinh ra tham nhũng.
Nếu đảng cứ tiếp tục kết tội các đồng chí tham nhũng (bị lộ) thì chẳng có gì phải lạ. Có chăng, số bị lộ chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp. Chỉ ngạc nhiên là sau thảm cảnh Nhân văn – Giai phẩm, đây là lần đầu tiên đảng ta lại muốn trừng trị một trí thức “đúng nghĩa”. Các vị trong Ủy ban Kiểm tra Trung ương nay bao nhiêu tuổi để thấu được cái thảm cảnh từ 60 năm trước?
Thời thế đã khác. Xin đừng để xảy ra một vụ đàn áp tư tưởng nào nữa! 
——————-
Tham khảo
Nguồn: https://xuandienhannom.blogspot.com/2018/11/gs-nguyen-ngoc-lanh-chu-hao-mot-tri.html
 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Mười Một 5, 2018 in Lưu

 

Tôn vinh chữ Quốc ngữ

Bước đi mới tôn vinh chữ Quốc ngữ

Nhà thơ Hoàng Hưng, TS Đào Hằng và nhà báo Lưu Trọng Văn tại Thư viện Ajuda, nơi lưu giữ văn bản nghiên cứu CQN đầu tiên của F. de Pina
Image captionNhà thơ Hoàng Hưng, TS Đào Hằng và nhà báo Lưu Trọng Văn tại Thư viện Ajuda, nơi lưu giữ văn bản nghiên cứu CQN đầu tiên của F. de Pina

Nhà báo Lưu Trọng Văn và tôi, Hoàng Hưng, vừa làm xong một việc có ý nghĩa ở Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, coi như mở đầu cuộc tôn vinh Chữ Quốc Ngữ (CQN) mà một nhóm người yêu tiếng Việt khởi xướng từ tháng 3 năm nay (2018).

Ông Nguyễn Đăng Hưng, nguyên GS Đại học Liege Bỉ, nhiều năm về Việt Nam giúp đào tạo cao học, là người có sáng kiến tôn vinh Cha Alexandre de Rhodes (nguyên cớ trực tiếp là do GS bất bình với “đề án chữ Việt mới” của một vị đã từng gây ồn ào truyền thông hồi đầu năm). Sáng kiến này được ông tung trên Facebook cá nhân và đưa ra trong buổi họp mặt các nhà văn thân hữu của mạng Văn Việt cuối tháng 3/2018.

Động thái đầu tiên của GS Nguyễn Đăng Hưng là tìm đến ngôi mộ người có công lớn trong công cuộc tạo ra Chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes người Pháp, ở Isfahan, Iran. Ông đã kiên trì vận động để được chính quyền sở tại cho phép, và thuê làm bia “Tri ân Cha Alexandre de Rhodes, người có công lớn trong việc tạo tác Chữ Quốc Ngữ” bằng 4 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh, Iran). Bia sẽ được Giáo sư cùng một số chiến hữu từ Việt Nam và nước ngoài sang Isfahan dựng vào dịp 358 năm ngày mất của cụ Rhodes (5/11/1660).

Cùng lúc, Giáo sư kết nối với các nhà nghiên cứu và trí thức ở Huế, Quảng Nam… kiểm lại những chứng tích của buổi khai sinh Chữ Quốc Ngữ ở vùng này, quan trọng nhất là 3 ngôi mộ của các Giáo sĩ Dòng Tên ở Thanh Chiêm, một trong số đó rất có thể là mộ của Giáo sĩ Francisco de Pina, đã được giới nghiên cứu khẳng định là người mở đầu công cuộc hình thành CQN từ đầu thế kỷ 17.

GS Nguyễn Đăng Hưng dâng hoa tại Mộ Cha A. de Rhodes ở Isfahan, Iran
Image captionGS Nguyễn Đăng Hưng dâng hoa tại Mộ Cha A. de Rhodes ở Isfahan, Iran

Một dự án lập Khu Tưởng niệm F. de Pina đã nhanh chóng ra đời với sự hưởng ứng của một số cựu lãnh đạo địa phương và trung ương, sự đóng góp tài vật (đất đai, tiền bạc) của doanh nhân và người dân. Nhóm khởi xướng “Tôn vinh CQN” gồm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, nhà giáo… đã hình thành như thế.

Câu chuyện trở nên càng hấp dẫn, khi bà Thuỷ Tiên Nguyễn, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam- Bồ Đào Nha cho biết sắp có cuộc Hội thảo về quan hệ Bồ Đào Nha – Việt Nam tại Hội Địa lý Lisbon (Sociedade Geografia de Lisboa) vào đầu tháng 7.

Lập tức 2 thành viên “Nhóm Tôn vinh CQN” chúng tôi đăng ký sang Lisbon dự Hội thảo.

Chiều 5/7, tại trụ sở Hội Địa lý Lisbon, đã diễn ra cuộc “Hội thảo Quốc tế về Quan hệ Bồ-Việt xưa và nay” do Hội Địa lý Lisbon và Hội Hữu nghị Việt-Bồ đồng tổ chức.

Bốn báo cáo về vai trò của các giáo sĩ Bồ và việc hình thành CQN của GS Nguyễn Đăng Hưng, nhà báo Lưu Trọng Văn, nhà giáo Lê Nam Trung Hiếu, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà giáo Thuỷ Tiên Nguyễn đã gây hứng khởi lớn cho cử toạ là các nhân sĩ trí thức Bồ mong muốn quốc gia này nối lại mối quan hệ vốn có từ lâu đời với xứ sở mà cha ông họ từng có giao tình, cũng như một số doanh nhân đang muốn tìm hiểu một địa chỉ làm ăn mới đầy triển vọng.

Hôm trước hội thảo, các thành viên của nhóm Tôn vinh CQN từ Việt Nam xa xôi cũng có cơ duyên được thăm thánh tích của Đức Chân Phước Andre Phú Yên, một học trò thân tín của A. de Rhodes, thờ tại Giáo đường cổ kính St Roque của Dòng Tên Bồ Đào Nha và thăm Thư viện Biblioteca da Ajuda, đọc tận mắt bản chép lại công trình đầu tiên về CQN của Cụ Pina (đầu TK 17) trong cuốn sách cổ từ TK 18: “Manuductio ad Linguam Tunckinensem” (Sổ tay về Tiếng Tonkin).

Ông Chủ tịch Hội Địa lý Lisbon khai mạc Hội thảo Quan hệ Bồ- Việt xưa và nay
Image captionÔng Chủ tịch Hội Địa lý Lisbon khai mạc Hội thảo Quan hệ Bồ- Việt xưa và nay

Thông tin về Hội thảo lan truyền rất nhanh về Việt Nam, lập tức chúng tôi nhận được những hứa hẹn góp sức cho những việc làm sắp tới của nhóm Tôn Vinh CQN.

Cũng từ Việt Nam, đã có thông tin về kế hoạch khai một Viện (Institute) thuộc trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng), bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức Việt Nam cũng như quốc tế. Viện có mục tiêu tôn vinh những người có công xây dựng, phát triển CQN, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và con cháu người Việt trên khắp thế giới… Việc làm trước mắt của tổ chức này sẽ là xây dựng khu Tưởng Niệm Cụ Pina ở Quảng Nam và hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày Vua Khải Định ra Đạo dụ bãi bỏ Khoa cử, coi như thừa nhận CQN là chữ viết chính thức của quốc gia (1919).

Đây có thể coi là bước đi mới của công cuộc tôn vinh CQN đã diễn ra từ sau Đổi Mới.

Lần đầu tiên là vụ phục hồi danh dự và công lao Alexandre de Rhodes vào năm 1993. Báo Lao Động khởi ra việc này với các bài viết của Minh Hiền, Hoàng Hưng, bác bỏ sự buộc tội bất công kéo dài mấy mươi năm đối với Giáo sĩ (những phát biểu của ông đã bị diễn giải theo định kiến chính trị tiêu cực).

Khi đó theo yêu cầu của báo Lao Động, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử, đã có bài viết quan trọng xác nhận công lao của Giáo sĩ. Ban Bí thư Đảng Cộng sản còn đề nghị báo Lao Động sưu tầm và cung cấp cho Ban tất cả tư liệu đã có về A. de Rhodes (trong việc này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các đồng nghiệp ở báo Công giáo & Dân tộc). Từ đó đưa tới Hội thảo Khoa học Lịch sử về A. de Rhodes và sau đó, tên đường, bia tưởng niệm Giáo sĩ đã được phục dựng.

Bước thứ hai là việc Quỹ Phan Châu Trinh đưa những người đặt nền móng cho tiếng Việt hiện đại với CQN như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh vào danh mục các danh nhân Văn hoá được Quỹ tôn vinh hằng năm.

Nhiều người hy vọng rằng, ở bước đi mới hôm nay, đông đảo người dân Việt Nam sẽ có cơ hội biết đến và tri ân công lao của những người đặt những viên gạch đầu tiên của Lâu đài CQN – các Giáo sĩ Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral, António Barbosa, và đặc biệt Fransisco de Pina.

Người ta cũng chờ đợi những động thái tích cực rõ ràng từ các cơ quan hữu trách chính thức, dẫn đến việc tôn vinh Cụ Pina một cách xứng đáng, đúng với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/forum-44778837

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Bảy 10, 2018 in Lưu

 

Nhãn: ,

Café Hàng Hành

Café Hàng Hành

CAFÉ HÀNG HÀNH

Ngủ đi, hãy ngủ đi em,
Đời là như thế dậy xem làm gì.
Dậy đi, em hãy dậy đi,
Đời là huyễn mộng có gì mà mơ?”

(Nguyễn Bảo Sinh)

Như một cánh cung, phố Hàng Hành bên hồ Hoàn Kiếm dài hơn trăm mét có đến mấy chục hàng ăn, hàng café, gallery, shop quần áo. Nghe nói ngày xưa đây là nơi bán hành tỏi, sau chuyển sang nghề tiện gỗ. Đền thờ tổ nghề tiện gỗ ở trong nhà số 11. Nghề tiện gỗ vốn là nghề truyền thống của làng Nhị Khê quê hương Nguyễn Trãi.

Ở phố Hàng Hành có mấy di tích cổ là đình và đền làng Tả Khánh Thuỵ ở trong nhà số 23. Ngoài ra ở nhà số 40 còn đền Trúc Lâm là đền thờ các ông tổ của nghề thuộc da giầy là các ông Phạm Đức Chính, Phạm Sĩ Bân và Phạm Thuần Chính. Trước cửa đền Trúc Lâm bây giờ là nơi rửa xe máy.

– Hà Nội đất Thánh! – Ông Vũ nhà ở phố Hàng Giầy trước đây vẫn ngồi ở gác hai nhà café Nhân thường nói – Hà Nội là đất Thánh nên đi đến đâu cũng là di tích!

Ông Vũ là khách đặc biệt của café Nhân. Ông biết rõ café Nhân từ khi mới lập, cách đây năm mươi năm, khi ấy chỉ là một gian nhà hẹp ở phố Cầu Gỗ. Một dạo, ông Vũ chuyển sang uống ở café Lâm phố Nguyễn Hữu Huân. Lâm nổi tiếng vì chơi với nhiều văn nhân nghệ sỹ, về già lại hay cúng tiền công đức lên cho các chùa. Lâm mất, ông Vũ chuyển về uống ở café Mai phố Lương Ngọc Quyến. Năm 2000, Mai bị bắt vì buôn ma tuý, ông Vũ chuyển về uống ở café Nhân Hàng Hành. Ngày nào cũng vậy, cứ 9 giờ sáng và 5 giờ chiều, ông Vũ đều đặn hai lượt đến ngồi ở trên ban công gác hai nhìn xuống mặt đường, uống một ly café đen đá và hút thuốc lá Camel, đôi mắt xa xăm nhìn ngắm bóng chiều cứ xuống dần dần qua tán lá bàng. Thời gian trôi đi, tất cả rồi mất hút vào trong quên lãng, qua khói thuốc, qua ly café. Chớp mắt hốt nhiên đã hết veo một đời người : ông Vũ chết vì bệnh ung thư ác tính vào năm 2003 thọ sáu mươi tuổi.

Café Nhân là nơi bọn giai phố và đám thanh niên trẻ rất thích ngồi. Một nhóm họa sĩ thời thượng ở Hà Nội để râu xồm xoàm cũng hay ngồi đây, có một bàn đặt hẳn hoi được trả tiền trước. Bên cạnh bàn đặt của nhóm hoạ sĩ là bàn của hoa hậu Mai Phương Thuý và đám thuộc hạ của cô thỉnh thoảng cũng hay đến tán phét. Khách thập phương và Tây ba-lô cũng thích đến đây ăn sáng với món bánh mỳ sốt vang và trứng ốp-lếp.

Café Nhân không phải là đệ nhất café Hà Nội. So với café Bằng ở chợ Hàng Da thì thâm niên của café Nhân chẳng ăn thua gì. Café Bằng có từ khi Hà Nội vừa mới Tây hoá. Con thạch sùng ghép bằng sứ ở chợ Hàng Da là biển hiệu của café Bằng. Đấy mới đích thị là đệ nhất đồ cổ café Hà Nội.

Ở phố Hàng Hành, café Nhân chưa hẳn đã là chỗ ngồi đẹp nhất. Vỉa hè ở mấy dãy nhà số 39 mới là chỗ ngồi đắc địa. Ở đây người ta có thể quan sát cả đoạn phố dài, có thể tha hồ ngắm nhìn thiên hạ đi qua đi lại. Bầu không khí bảng lảng thậm chí còn hơi hiu hắt ở đây quãng tầm giờ chiều gợi nhớ vô biên đến những phố huyện ở vùng Hà Nam Phủ Lý hay ở vùng đồi trung du Phú Thọ. Ngồi trên gác hai café nhà số 20 trông xuống mặt đường, nhất là vào những đêm hè, người ta cũng có cảm giác như đang ngồi trên gác một quán cao lâu ở trong phố cổ Hội An cơ nữa…

Đối với nhiều người trong đám dân chơi Hà Nội, ly café Hàng Hành buổi sáng cũng là bắt đầu một ngày. Ngày ấy sẽ dài hay ngắn, sẽ vui hay buồn? Tất cả đều là ẩn số sau ly café này đây.

– Nếu ta coi ly café buổi sáng là ranh giới xác định bắt đầu một ngày cũng hay! – Tay hoạ sĩ để râu xồm xoàm nói với người bạn café ngồi bên – Chào buổi sáng!

– Thế thì chết! – Người bạn café ngồi cạnh bật cười – Một ngày mới của ông bắt đầu vào lúc 9 giờ. Ông uống café đến khoảng 10 giờ. Thế là hết buổi sáng còn gì! Người khác ai cũng như ông thì chết!

Ừ! Vậy một ngày mới ở đây bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ lúc mấy giờ?

24 giờ đêm, cánh cửa kính Hotel nhà số 14 khép lại, ông khách Tây đi chơi khuya cuối cùng đã về, mấy ngọn đèn đường vụt tắt, căn phố nhỏ bắt đầu mơ màng vào giấc ngủ say. Cùng lúc ấy ở ngõ nhà số 20, một người phụ nữ mảnh khảnh đi ra, có một chiếc taxi vọt đến đón cô ra ga cho kịp chuyến tàu buôn lên Yên Bái. Một ngày mới, một cuộc phiêu lưu mới bắt đầu với người phụ nữ này ngay từ 0 giờ.

1 giờ sáng, có nhiều tiếng động lao xao ở trước cửa đền Trúc Lâm. Ông Dương – một tay cao bồi già, trước đây vốn là võ sỹ quyền Anh, mấy năm nay mắc bệnh mất ngủ quả quyết vẫn thường nhìn thấy các vị sơn thần thổ địa ở quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn đến “giao ban” ở đây:

– Cũng giống hệt như đội dân phòng! – Ông Dương nói – Chỉ có điều các cụ đều mặc áo đỏ, áo vàng, ống tay áo rộng, cụ nào cũng để râu, để ria, chân đi hài, đi hia. Khi đi, cảm tưởng như chân các cụ đều không bén đất, tất cả đều nhấc là là cao hơn mặt đất khoảng chừng gang tay!

Chẳng ai tin lời ông Dương vì ông này suốt ngày uống rượu, lúc nào cũng trong trạng thái tây tây.

– Tây tây là thế nào? – Ông Dương cáu – Tớ trông thấy cả cụ Rùa, đầu húi trọc, mặc quần áo trắng (đúng rồi, y hệt như trong phim Bao Công!). Cụ Rùa khật khà khật khưỡng cũng cùng đi nữa!

Ông Dương không phải là người dân chính gốc ở phố Hàng Hành. Ông Dương mới về ở phố Hàng Hành độ chục năm nay nhưng lại là nhân vật nổi tiếng nhất phố. Trước đây, ông Dương nhà ở dưới đê Tô Hoàng, sau vượt biên sang tận Hồng Kông, đã từng xưng  trong trại tị nạn, nổi tiếng anh hùng nghĩa khí. Về già rửa tay gác kiếm, mấy đứa con lại kế nghiệp cha, đi ra ngoài không ai bắt nạt được họ. Có một thứ trật tự vô hình được thiết lập ở phố Hàng Hành hình như có vẻ như có bàn tay của cha con ông Dương cầm chịch.

2 giờ sáng, có tiếng reo hò ở phía đầu phố Lương Văn Can. Người ta đang bật ti vi xem trận bóng đá ngoại hạng Anh giữa Arsenal và Manchester United. Sau trận cầu này sẽ có kẻ khóc người cười. Gần đây, dân chơi Hà Nội đã quen với những cuộc cá độ lên tới cả triệu đô.

3 giờ sáng, có tiếng gáy te te của con gà tre trong một nhà nào giữa phố. Đây là thời khắc của cô hồn ma quỷ hiện hình. Bà Phú có mẹt thuốc lá vẫn thường ngồi bán ở trước cửa nhà số 4 bảo rằng cứ vào đêm 30 cuối tháng bao giờ cũng thấy có bóng mấy bà cô ông mãnh xuất hiện vào đúng giờ này. Đấy là hồn ma của mấy thanh niên đua xe máy chết hồi năm ngoái ở trước cửa đền vua Lê Thái Tổ. Những cô hồn này vừa đi vừa khóc than ai oán. Bọn họ đều là con cái nhà giàu trên chợ Đồng Xuân đang độ tuổi teen.

4 giờ sáng, anh Quyền người vẫn chở thịt bò từ trong Chuông Vác mang cho các cửa hàng bít-tết có tiếng ở Hà Nội phi xe máy từ phố Bảo Khánh đi vào. Cậu Quyết, đầu bếp của cửa hàng ” Fast food – Snack bar – Restaurant” hé cửa nhận hàng. Anh Quyền người cao lớn, lưng gù trông như con gấu. Cậu Quyết em trai anh ta đứng cạnh trông chẳng khác gì một đứa bé con.

5 giờ sáng, khoảng trời phía trên Tháp Rùa ở hồ Hoàn Kiếm bắt đầu hưng hửng bừng lên một thứ ánh sáng thật huyền ảo và rực rỡ. Hàng xôi gà, bún thang ở nhà số 29 bắt đầu lục tục dọn hàng. Mấy vị khách ở Sài Gòn đi công tác ra Hà Nội vẫn quen ngủ đêm trong mấy khách sạn dưới phố Cầu Gỗ thường đi bộ đến đây ăn sáng. Họ coi việc ăn sáng ở phố Hàng Hành là một trong những “nét đẹp văn hoá” của chuyến đi ra miền Bắc của mình. Khi về Nam, vị béo ngậy của xôi gà và thanh thanh của bát bún thang Hàng Hành sẽ làm cho các anh hai, chị hai ngơ ngẩn nhớ đời.

6 giờ sáng, các hàng café bắt đầu lục tục mở cửa dọn hàng. Từ lúc này tới khoảng nửa đêm, phố Hàng Hành bước vào phiên chợ đô hội thường ngày của nó. Phù hoa ư? Hay phù phiếm? Phù du ư? Hay phù thời…

Khuôn mặt tinh thần của phố Hàng Hành thường thường không có nét gì là sâu sắc cả. Nó không mơ ngủ. Không nồng nhiệt. Nó không gay cấn. Không sát phạt. Có sự điệu đà, có sự khinh mạn. Có phởn phơ cùng sĩ diện. Đôi khi có những ưu tư và vô nghĩa lý… Khuôn mặt tinh thần của phố Hàng Hành thường thường ít khi thay đổi ở trong một ngày, ở trong một tháng, ở trong một năm… Có thể nhận ra những định đề gì (định đề hay châm ngôn?) từ trong nhịp sống bề ngoài đều đều, vô cảm của con phố phù hoa vào loại bậc nhất của thành phố này?

VÀI ĐỊNH ĐỀ ĐẦU TIÊN:

* Ở đâu có trật tự thiết lập ở đấy hoặc có hiền nhân quân tử, nếu không ắt hẳn có những bàn tay tàn bạo dự vào. Ừ, có hai trong một.

* Cái gì không giết anh sẽ khiến cho anh mạnh mẽ hơn – đương nhiên, nguy hiểm hơn.

* Bạn tìm kiếm gì? Đi xem gì?

 Tìm kiếm cái chết! Đi xem người chết!

* Sự nhàn rỗi ở người này là sự bắt đầu, là sự khởi động. Ở người kia lại là đứt cước, lại là tẹt ga. May mà đứt cước, may mà tẹt ga!

* Sao đi trách tôi khiếm nhã mà chị loã lồ?

* Anh cởi mở? Hay anh toan tính xâm phạm giá trị tiết hạnh người ta?

* Tiết hạnh ư? Chỉ là quan niệm.

* Muốn hạnh phúc thì im đi, đừng suy nghĩ.

* Tất cả đều là biểu hiện của Dục vọng. Ừ thôi vậy, gọi là cái Đẹp.

* Tôi không nói gì, tôi chối. Người ta không nói gì, người ta phục tòng. Anh hãy nghĩ xem vì sao tôi chối, vì sao người ta phục tòng?

Khoảng 9 giờ trở ra, phố Hàng Hành bắt đầu cực kỳ sầm uất. Những khách hàng quen thuộc cứ đến lại đi. Một năm, rồi mười năm, hai mươi năm nữa có còn những khách hàng quen thuộc như thế này không:

Đôi vợ chồng tỷ phú một gallery nổi tiếng trên phố Hàng Bông đèo nhau trên xe máy để đi ăn sáng. Ăn xong, họ ngồi ở vỉa hè nhà café Nhân với vẻ mãn nguyện hài lòng… Mãn nguyện hay thụ động?

Ông họa sĩ đi 40 cây số từ Xuân Mai về khoan khoái ngồi tựa cửa nhà số 39 mộng mơ… Mộng mơ hay ảo tưởng?

Ông giáo già ở phố Ấu Triệu ăn mặc comple caravát trắng tinh như đi dự tiệc… Dự tiệc hay hẹn hò?

Tay nhà văn ở phố Nhà Chung gác chân ngồi đọc báo cọp một mình… Một mình hay đa nhân cách?

Một đám công chức tụ đầu ngồi xem ảnh nuy ở trong điện thoại di động Nokia N81… Xả hơi hay suy đồi?

Mấy cô buôn bán chứng khoán đều là vợ con mấy vị cảnh sát bên đồn Tràng Thi cười như nắc nẻ… Cười người hôm trước hôm sau người cười…

Khoảng giữa trưa, khách uống café bắt đầu van vãn. Mấy cô sinh viên kiêm làm gái gọi đi học về, da tái mét vì đói bụng hay vì ăn kiêng, bồn chồn ngồi đợi nhân tình đi xe ô-tô đến đón.

1 giờ chiều, mấy cậu nhân viên giữ xe máy, rửa xe máy với đánh giày ngủ gà ngủ gật.

3 giờ chiều, hàng bún cua ở cạnh café nhà số 38 mở hàng. Mấy cô trên phố diện short và áo hai dây ngồi ăn khế chua trước cửa café nhà số 39. Một tay buôn bán ma tuý lảng vảng lướt qua. Một ông nhà văn trông tầm thường như tay lái xe ôm ngoại tỉnh đang ngồi đọc sách, đăm chiêu, bất động.

5 giờ chiều, một ông linh mục trong Nhà thờ Lớn đi uống café, ăn mặc như một ông giáo cấp Hai trường huyện nhà quê.

6 giờ tối, một bà thầy bói vận áo dài lụa mầu nâu mon men đi đến bên cạnh các cặp tình nhân ở quán café gạ gẫm. Phố xá đã lên đèn, bóng tối bắt đầu xoá dần đi những tia sáng ngày nhợt nhạt…

VÀI ĐỊNH ĐỀ TIẾP THEO:

* Điều ác thường vẫn khởi lên từ quan niệm thái quá về danh dự. Bởi vậy, “bọn đạo đức” vẫn là bọn đáng ngờ nhất về đạo đức.

* Không có vĩ nhân hẳn là đám đông đang tụt dốc, đang mòn mỏi… Sự tầm thường còn kinh hơn cả cái chết.

* Không có mỹ nhân không có vĩ nhân.

* “Tư tưởng chỉ đến khi người ta bước đi, khi người ta đang ở trên đường”. Đó là Nietzche. Cần nói thêm: khi người ta không an toàn, khi người ta đang “xa rời tổ ấm”…

* Tiền ư? Tình ư? Tội ư? Đấy là cuộc sống ư? Đấy là cuộc sống.

* ” Sự đơn giản là điều kiện thiết yếu của cái Đẹp đạo đức”. Lep Tonxtoi nói thế. Nhưng để đơn giản, người ta cứ phải phức tạp cái đã.

* “Chúng ta đang sống trong thời mạt pháp”. Nhiều người nói thế. Chúng ta đang già đi, môi trường ô nhiễm, sức đề kháng yếu đi. Chẳng làm sao được.

* Bản chất con người phi luân luôn miệng nói về đạo đức. Con người đạo đức cũng nói như thế. Vẫn là như thế, mãi là như thế.

* Anh dũng, can đảm, kiêu hùng: đấy là cái Đẹp.
Rụt rè, loanh quanh, bạc nhược: đấy là cái Xấu.

* Những kinh nghiệm riêng tư đích thực thường không nhiều lời. Nó nấp sau vẻ ngô nghê, ngờ nghệch, cù lần. Nó đau đớn buộc phải huyền đi…

Một buổi chiều có một vị tôn sư đi cùng với một cô gái là học trò của ông ta đến phố Hàng Hành. Họ ngồi trên gác hai nhà café Nhân trông xuống mặt đường. Chỗ này trước đây khi còn sống, ông Vũ ở phố Hàng Giầy vẫn hay đến ngồi. Đây cũng là chỗ của nhóm hoạ sĩ thời thượng để râu xồm xoàm vẫn đặt bàn hàng ngày vào các buổi sáng.

Cô gái hỏi:

– Thưa Thày, nhiều người hàng ngày vẫn đến uống café ở phố Hàng Hành. Đấy thường là lúc bắt đầu một ngày của họ. Thưa Thày, đấy có phải là thời khắc để phân biệt ranh giới giữa đêm với ngày, giữa bóng tối và ánh sáng ở trong lòng họ hay không?

Vị tôn sư đáp:

– Không phải con ạ! Ranh giới phân biệt giữa đêm với ngày, giữa bóng tối và ánh sáng không phải ở ly café. Lòng nhân ái bao dung mới là ranh giới phân biệt giữa đêm với ngày, giữa bóng tối và ánh sáng. Khi trong lòng ta đầy rẫy oán thù, đầy rẫy nhỏ nhen thì đấy là đêm đen, là bóng tối. Còn khi ở trong lòng ta chan chứa tình người, chan chứa tình thương thì ta nhìn ai ta cũng thấy có bóng dáng Thượng đế ở trong lòng họ. Đấy mới chính là ban ngày, chính là ánh sáng ở trong lòng ta. Có rất nhiều người đi giữa ban ngày mà lòng trĩu nặng như đi ở trong đêm đen phủ đầy bóng tối. Họ không biết rằng chỉ có lòng nhân ái, sự bao dung mới giúp cho họ phân biệt được ranh giới giữa đêm với ngày, mới thấy ánh sáng mặt trời rực rỡ ở đâu… Tình yêu giữa người với người chính là ánh sáng…

Cô học trò trìu mến nhìn vị tôn sư. Ông nhắm mắt trong sự im lặng, trong sự linh thiêng và trong bình an tuyệt đối.

Cô gái nói:

– Con cám ơn Thày. Con sẽ ghi nhớ điều Thày vừa nói…

Ánh sáng hoàng hôn rực rỡ chiếu vào căn gác nhỏ trong nhà café Nhân. Đây là thứ ánh sáng đặc biệt làm cho ta có thể bàng hoàng sực tỉnh ra rất nhiều điều. Cho đến mãi về sau này, cả đến khi về già, cô gái kia vẫn không bao giờ quên được buổi trò chuyện với vị tôn sư, vẫn không bao giờ quên được cái ánh sáng kỳ diệu tuyệt vời ở trong buổi chiều hôm ấy.

Ấy thế mà đã sáu năm rồi đấy.

Ấy thế mà đã sáu mươi năm rồi đấy…

HàNội Noel 25/12/2007

Vâng! Tình yêu giữa người với người chính là ánh sáng………http://vietmessenger.com/books/

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Bảy 5, 2018 in Lưu, Nguyễn Huy Thiệp

 

Nhãn: , ,

Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái Latin?

Tại·sao chỉ có Việt Nam đổi hệ·thống chữ·viết biểu·ý sang hệ·thống chữ·viết dùng chữ·cái La·tinh?

Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự (quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểu âm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốc gia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc) thì không?

A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cách khái quát về hệ thống chữ viết.

Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.

Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character), nhưng các ký tự in được (printable character) được sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âm vị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, hiragana (平假名 Bình giả danh) và katakana (片假名 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một số hệ thốngchữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói thành từ (word), cụm từ (phrase). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số hệ thống:

Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M,N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.

Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν,Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.

Hebrew: (đọc từ phải sang trái) א, ב, ג, ד, ה, ו, ז, ח, ט, י, כ, ל, מ, נ, ס, ע, פ, צ, ק, ר, ש, ת.

Trong hệ thống chữ biểu ý, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc mỗi ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character) đại diện cho một từ, hình vị hay đơn vị ngữ nghĩa. Chẳng hạn như chữ Ai Cập, chữ Hán, chữ Maya và kanji (漢字Hán tự) của Nhật Bản.

Bảng bộ thủ (部首) của hệ thống chữ viết biểu ý Trung Hoa, có thể được coi như Bảng Mẫu tự Trung Hoa (Chinese Main Character Table) bởi lẽ 80% toàn bộ chữ Hán được tạo ra bằng phương thức Hình Thanh (形聲), (hay tượng thanh, hài thanh).Mượn phần âm thanh (聲) của một chữ có sẵn rồi ghép vào một bộ (phần hình 形) chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới.

Bảng bộ thủ được phân loại thành 214 bộ (mẫu tự). Mỗi bộ thủ mẹ (mẫu tự) này được kết hợp với bộ thủ khác hoặc thêm một số nét để tạo thành một ký hiệu mới (newnotation) hay ký tự (character) mới hay chữ con mới (sub-character). Mẫu tự Trung Hoa được tạo ra dựa theo tám dạng nét cơ bản:

1. Nét ngang: hoành 一 (viết từ trái sang phải) như trong chữ [一 , nhất], (một)

2. Nét sổ thẳng: trực 丨 (viết từ trên xuống dưới) như trong chữ [十 , thập], (mười)

3. Nét phẩy: phiệt 丿(viết từ trên-phải xuống trái-dưới) như trongchữ [八 , bát],(tám)

4. Nét mác: phật 乁 (viếttừ trên-trái xuống phải-dưới) như trong chữ [入, nhập],(vào)

5. Nét móc câu với 5 dạng khác nhau và không hoán đổi nhau được: 乛, 亅, 勹, 乚

[hoành câu] nét ngang móc 乛 như trong chữ [字 , tự] (chữ)

[sổ câu] nét đứng móc 亅 như trong chữ [小 , tiểu] (nhỏ)

[loan câu] nét cong với móc 勹 như trong chữ [狗 , cẩu], (chó)

[tiết câu] nét mác với móc 乚 như trong chữ [我 , ngã], (tôi)

[bình câu] nét cong đối xứng với móc như trong chữ [忘 ,vong], (quên)

6. Nét gãy: chiết フ

7. Nét xốc: khiêu 冫 như trong chữ [跳 , khiêu], (nhảy)

8. Nét chấm: điểm 丶 (viết từ trên xuống dưới-phải hoặc trái) như trong chữ [六, lục],(sáu)

Ngoài ra còn một số nét kết hợp không theo chuẩn cơ bản. Bao gồm các dạng nét như sau:

[sổ bình câu] nét đứng kết hợp với bình câu và móc như trong chữ [也 ,dã], (cũng)

[phiệt điểm] nét phẩy về trái kết thúc bởi chấm như trong chữ [女 , nữ],(con gái)

[sổ triệp triệp câu] nét sổ với 2 lần gập và móc như trong chữ [馬 ,mã], (ngựa)

Tuy phân chia chúng ra thành 8 dạng nét cơ bản cho tiện sắp xếp, nhưng trong đó một số nét cơ bản lại có nhiều tiểu dạng khác nhau và các dạng đó không hoán đổi với nhau được. Do vậy, dựa vào thực tế ta có thể nói Mẫu tự Trung Hoa được tạo ra dựa theo 23 dạng nét (shape) cơ bản. Phương thức Hình Thanh (形聲) gây ra rất nhiều từ đồng âm,người ta phải xem hoặc đọc thêm bằng mắt (vì phần nghĩa do phần hình 形 chỉ định) mới hiểu rõ nghĩa.

Bảng bộ thủ dựa theo số nét (number of strokes):

1. 一 丨 丶 丿 乙 亅

2. 二 亠 人 儿 入 八 冂 冖 冫 几 凵 刀 力 勹 匕 匚 匸 十 卜卩 厂 厶 又

3. 口 囗 土 士 夂 夊 夕 大 女 子 宀 寸 小 尢 尸 屮 山 巛 工己 巾 干 幺 广 廴 廾 弋 弓 彐 彡 彳

4. 心 戈 戶 手 支 攴 文 斗 斤 方 无 日 曰 月 木 欠 止 歹 殳 毋 比 毛 氏 气水 火 爪 父 爻 爿 片 牙 牛 犬

5. 玄 玉 瓜 瓦 甘 生 用 田 疋 疒 癶 白 皮 皿 目 矛 矢 石 示禸 禾 穴 立

6. 竹 米 糸 缶 网 羊 羽 老 而 耒 耳 聿 肉 臣 自 至 臼 舌 舛舟 艮 色 艸 虍 虫 血 行 衣 襾

7. 見 角 言 谷 豆 豕 豸 貝 赤 走 足 身 車 辛 辰 辵 邑 酉 釆里

8. 金 長 門 阜 隶 隹 雨 青 非

9. 面 革 韋 韭 音 頁 風 飛 食 首 香

10. 馬 骨 高 髟 鬥 鬯 鬲 鬼

11. 魚 鳥 鹵 鹿 麥 麻

12. 黄 黍 黑 黹

13. 黽 鼎 鼓 鼠

14. 鼻 齊

15. 齒

16. 龍 龜

17. 龠

Tuy nhiên, với việc giản thể hoá chữ Hán do chính quyền Trung Quốc khởi xướng sau này nên số bộ thủ tăng thêm 13 bộ nữa. Do đó, bảng bộ thủ (部首) ngày nay gồm 227 bộ thủ (mẫu tự Trung Hoa).

B. Tại sao các quốc gia như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly không đổi hệ thống chữ viễt biểu ý (ký tự – character) sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh, duy chỉ có Việt Nam?

Tiếng Trung Hoa, Nhật, Cao Ly và Tiếng Việt Nôm (post-Nôm) là những tiếng đơn âm nên đều mắc phải một trở ngại chung là có nhiều chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dị nghĩa). Trung Hoa và Nhật Bản không thể đổi sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh mà chỉ để phiên âm cho người nước ngoài học ngôn ngữ bản địa được dễ dàng, chứ không thay thế hẳn như trường hợp Việt Nam vì số âm tiết của ngôn ngữ họ hạn hẹp.

Tiếng Bắc Kinh, Phổ Thông hay Quan Thoại chỉ có 1.300 âm, để giải quyết vấn đề đồng âm dị nghĩa do số âm tiết hạn chế người Trung Hoa phải chế ra vô số ký hiệu hay ký tự (character) khác nhau để phân biệt ý nghĩa của chúng dựa vào phương thức Hình Thanh là chính. Chẳng hạn, một tiếng hay một âm “hoàng”, trong Hán tự có 17 ký tự (character) khác nhau để ghi 17 nghĩa khác nhau (đồng âm dị tự dị nghĩa), âm “kỳ” có 22, âm “hoa” có 10… Họ cố gắng giải quyết vấn đề đồng âm bằng cách ghép hai hay ba ký tự với nhau — tuy nhiên có rất nhiều từ mới gồm hai hoặc ba ký tự hợp thành này, lại cũng thường có nhiều nghĩa. Do đó với hệ thống chữ viễt biểu ý, Tiếng Trung Hoa phải dùng 227 bộ thủ (部首) hay mẫu tự Hán để tạo ra 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinese character) để ghi lại hơn 50.000 từ (word), trong khi đó Tiếng Việt dùng 29 ký tự (character) hay chữ cái (letter) hoặc Tiếng Anh chỉ dùng 26 ký tự hay chữ cái cũng để ghi một lượng từ tương đương. Do vậy nếu không thuộc mặt chữ và biết rõ nghĩa của 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinesecharacter) của mỗi thời đại thì không thể nói và hiểu rành rọt được Tiếng Hán của thời đại đó.

Tiếng Nhật do chỉ có 120 âm, 5 nguyên âm, nên đồng âm dị nghĩa rất nhiều, nếu viết bằng La Tinh thì không rõ nghĩa. Nhật ngữ hiện đại dùng ba thể Kanji, Hiragana, và Katakana. Kanji dùng diễn đạt ý nghĩa cơ bản của từ. Hiragana dùng sau Kanji để bổ túc ý nghĩa và ngữ pháp Nhật. Katakana chỉ dùng để phiên âm hoặc tạo các từ vay mượn của nước ngoài (gairaigo外來語, ngoại lai ngữ).

Người Cao Ly (Triều Tiên) dùng chữ ký âm, được gọi là Hangul (한글) hay Chosŏn’gŭl (조선글) của riêng họ, tuy thoạt nhìn có vẻ giống Hán tự ở một khía cạnh nào đó, nhưng thật ra họ chỉ dùng 24 ký tự giống như bảng chữ cái La Tinh để ký âm tiếng Cao Ly. Do đó, thực sự mà nói là chỉ có Trung Quốc và Nhật Bản là sử dụng hệ thống chữ viễt biểu ý.

Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thống chữ biểu âm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm. Mỗi tiếng nói là do một âm tiết kết hợp với một thanh mà tạo thành. Tiếng Việt có khoảng 15.000 âm nên ít bị trường hợp chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dị nghĩa). Để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này, chưa kể f, j, w, z, chúng ta dùng 29 ký tự (printable character) hay chữ cái (letter) bao gồm 12 nguyên âm gồm a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y; 17 phụ âm gồm b, c, d, đ, g (gh), h, k.l, m, n, p. q, r, s, t, v, x. Như vậy vẫn chưa đủ, ngoài ra ta còn có 3 bán nguyên âm đôi iê, ươ và uô; 9 phụ âm đôi (consonant digraph) gồm ch, gi, kh, ng(ngh), nh, ph, qu, th, tr, cộng thêm sáu thanh điệu (tone) được ghi bằng các dấu thanh (accent mark) gồm thanh ngang (không dấu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc và dấu nặng. Thế mới thấy số lượng âm thanh của Tiếng Việt phong phú và giàu chất nhạc vô cùng. Do nhu cầu giao tiếp quốc tế cũng như ghi lại nhiều kiến thức mới, khoa học mới, khuynh hướng đưa thêm các chữ cái F, J, W, Z được dùng để phiên âm tên, địa danh tiếng nước ngoài và dùng trong lĩnh vực khoa học như hoá học, vật lý học, toán học… dần dần được nhiều người ủng hộ.

Ngoài ra, vấn nạn “đồng tự, đồng âm nhưng dị nghĩa” đối với Tiếng Hán là một bài toán nan giải, thế nhưng đối với Tiếng Việt,chúng ta có thể giải quyết một cách triệt để được vấn đề “chữ viết giống nhau, đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa” nhờ thoát ra khỏi sự trói buộc, đóng khung trong phép lục thư (六書) của Trung Hoa và thay vào đó bằng cách ghép các từ đơn căn bản thành nhiều từ kép mới, cũng như nhiều tiếng mới bằng những nguyên tắc, phương thức mới linh động:

1. Láy từ

Ví dụ:

Trắng tinh, trắng toát, trắng xoá

Đen đúa, đen nghịt, đen ngòm, đen xì.

2. Đồng kết: ghép (kết hợp) từ thuần Việt với từ Nho Việt có cùng nghĩa (đồng nghĩa)

Ví dụ:

Hát xướng: hát (Việt), xướng (Nho).

Trắng bạch: trắng (Việt) + bạch (Nho)

3. Dị tự: sử dụng chữ cái I hoặc Y tạo ra từ mới

Ví dụ:

Lí trong “lí nhí” khác với lý trong “lý tưởng”

Kì trong “kì cọ” khác với kỳ trong “kỳ ngộ”,“kỳ tích”

4. Tạo tân từ hoàn toàn mới dựa vào dấu thanh

Ví dụ:

thẻ số: number tag, thẻ tín dụng: credit card

siêu: meta, siêu: super

Tóm lại, Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thống chữ biểu âm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm và nhờ vào số lượng chữ cái dồi dào, 12 nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y), 3 bán nguyên âm đôi (iê, ươ và uô), 17 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g (gh), h, k. l, m, n,p. q, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (ch, gi, kh, ng (ngh), nh, ph, qu, th, tr),cộng thêm sáu thanh (thanh ngang (không dấu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấusắc và dấu nặng) để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này. Hy vọng một ngàynào đẹp trời nào đó, các chữ cái F, J, W, Z được chính thức thêm vào bảng chữ cái Tiếng Việt để phiên âm tên, địa danh tiếng nước ngoài và dùng trong lĩnh vực khoa học như hoá học, vật lý học, toán học… thì quá tuyệt vời. Thêm vào đó nhờ thoát ra được sự trói buộc trong phép lục thư (六書) củaTrung Hoa, chúng ta có thể tạo ra nhiều từ ghép mới bằng những nguyên tắc mới linh động hơn, giảm thiểu được vấn đề đồng âm, đồng tự và góp phần làm trong sáng Tiếng Việt.

Đặng Hải Nguyên

http://thuatngu.tieng-viet.org/

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Năm 15, 2018 in Lưu

 

Nhãn:

Lai lịch thuốc lào và bình đẳng nam nữ

Lai lịch thuốc lào
111
Hoàng Tuấn Công

Thuốc lào có tên chữ là “tương tư thảo” (cỏ tương tư). Ý đã trót hút vào rồi thì không bỏ được, đêm thương ngày nhớ tựa kẻ mắc bệnh tương tư vậy.

Theo Lê Quý Đôn, nước Nam ta vốn không có giống thuốc ấy. Từ năm Canh Tý, niên hiệu Vĩnh Thọ (1660), đời vua Thần Tông nhà Lê, người nước Ai Lao mang giống đến, dân ta mới đem trồng. Quan, dân, đàn bà, con gái đua nhau hút, đến nỗi có người nói rằng: “Nhịn cơm ba ngày còn được, chứ một lúc nhịn hút thuốc thì không được”.

Người ta tin rằng thuốc lào có thể trừ được các bệnh phong hàn, sơn lam, chướng khí, nên thuốc mau chóng được phổ biến. Nhưng thuốc lào đôi khi lại là nguyên nhân gây ra nạn cháy nhà lớn. Năm Ất Tị, đời Cảnh Trị (1665), hai lần hạ lệnh nghiêm cấm hút thuốc, lùng bắt những kẻ trồng thuốc, bán thuốc, hay hút thuốc giấu mà không tuyệt được.

Nhiều người tài tình khoét thân tre đang sống để làm điếu hút, hoặc chôn giấu điếu bát xuống đất, chỉ để hở miệng khỏi mặt đất để dấm dúi hút trộm, càng sinh hoả tai. Lâu lâu, triều đình biết không thể tuyệt được, nên lại bỏ lệnh cấm ấy. Những chiếc điếu bị vùi xuống đất, nay lại được đào lên, lau sạch sẽ, sóng nước trong lòng điếu tiếp tục reo vang nhả khói. Ấy mới có mấy vần thơ giải toả rằng:

“Đầu tròn trùng trục, đít bảnh bao
Mân mân mó mó, đút ngay vào
Thủy hỏa tương giao sôi sùng sục
Âm dương nhị khí sướng làm sao!”

(Khuyết danh)

Phải chăng, chuyện chôn điếu xuống đất hút dấm hút dúi chính là nguồn cơn sinh ra câu ca dao: “Nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”? Để rồi riêng chuyện hút thuốc lào cũng có khối bài thơ vịnh thú vị:

CÁI ĐIẾU BÁT

Đã nên danh giá ở trên đời
Kẻ mến người yêu khắp mọi nơi
Đầu mũ lưng đai ngồi chễnh chện
Lòng sông dạ bể xiết xa khơi
Tiếng rền réo sấm dường vang đất
Hơi thở tuôn mây dễ ngất trời
Một trận ra oai trong nước lặng
Ải nam khói tắt, ngạc chìm hơi

(Khuyết danh)

CÁI XE ĐIẾU

Vốn ở lâm-tuyền đã bấy nay
Khi ra, dễ khiến thế gian say
Lưng in chính-trực mười phân thẳng
Dạ vẫn hư-linh một tiết ngay
Động sóng tuôn mây khi chán miệng
Nghiêng trời, lệch đất thuở buông tay
Dưới từ giã-lục trên đền đỏ
Ai chẳng quen hơi, mến nết này.

(Khuyết danh)

Với thuốc lào, thuốc lá, “quan, dân, đàn bà, con gái” nước Nam vốn bình quyền. Không biết tự bao giờ, bỗng dưng trở thành đặc quyền của đàn ông.

Theo https://xuandienhannom.blogspot.com/2017/03/hoang-tuan-cong-lai-lich-thuoc-lao.html  
 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Tư 17, 2018 in Lưu

 

Nhãn: ,

Sống dễ lắm!

Sống dễ lắm!
Nguyễn Huy Thiệp

Sống dễ lắm

Trường Sư phạm tỉnh miền núi mở lớp tập huấn cho giáo viên vùng cao vào cuối tháng 7. Có 11 người và họ đều là những giáo sinh trẻ lần đầu đi dạy học. Bạn đọc ở đô thị chắc hiểu ít về các trường học vùng cao cách đây ba, bốn mươi năm.Tôi chỉ có thể nói với bạn rằng không ở đâu buồn tẻ hơn và ít vụ lợi hơn ở đấy, còn việc hình dung và dành tình cảm cho nó ra sao tuỳ bạn.
Cuối tháng 7, ở Tây Bắc mưa nhiều và những đợt lũ quét bất ngờ có thể gây nên những tai hoạ không thể lường trước được. Người ta cử ông giáo Chi mang những tài liệu sách vở đến giảng cho lớp tập huấn nhưng trên đường từ tỉnh lị về trường, khi qua suối, ông giáo Chi bị nước cuốn sạch đồ đạc. Mười một giáo sinh ra đón ngài thanh tra giáo dục, họ nửa khóc nửa cười khi thấy một ông già gày gò, mình trần thân trụi ướt như chuột lột đang ngồi rét run cầm cập.
Tất cả những nghi lễ và dự định cho lớp tập huấn giáo dục bỗng vứt đi hết vì lí do bất ngờ, những qui định ứng xử giữa ông giáo Chi và đám trẻ bỗng xoay ra hướng khác hẳn. Ông giáo Chi được các cô con gái thân mật gọi là ” bố ” mặc dầu ông nửa đùa nửa thật nói rằng mình thích được coi là ” bạn thân ” hoặc ” anh giai ” hơn. Các cô con gái trổ tài may vá và ông giáo Chi lập tức có ngay hai bộ quần áo được ” cải tạo ” từ đám quần áo cũ của họ. Hai cậu con trai không tỏ ý thân thiện gì với ” bố “, dưới mắt họ ngài thanh tra giáo dục ” xuống cấp “, trở thành một tay dấm dớ chẳng ra gì.
Tuy nhiên, đúng ngày đúng giờ, lớp tập huấn giáo dục vẫn được bắt đầu như thường lệ, y như qui định của Bộ giáo dục tận mãi Thủ đô. Ông giáo Chi vốn xuất thân là lính, ông coi nhiệm vụ trên hết và không có gì ngăn cản ông làm nhiệm vụ được giao.
Không có giấy bút gì, ông giáo Chi đĩnh đạc đứng lên bục giảng có các cô con gái vây quanh, hai cậu con trai bất đắc dĩ phải ngồi cùng, không phải vì nể ông giáo mà vì nể các cô con gái.
– Dạy học là nghề sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi bắt đầu bài giảng của mình.
– Nếu lương ít, lại không có thực phẩm thì làm sao ? Ở các vùng cao lấy đâu ra chợ ? – Các cô giáo trẻ lần đầu sống xa nhà lo lắng hỏi ông.
– Phải trồng rau chứ ! – ông giáo Chi trả lời. Nuôi lấy vài con gà… Ngày xưa, tớ (ông giáo Chi xưng ” tớ ” chứ không xưng ” bố “)… tớ nuôi cả lợn. Chiều ba mươi Tết thịt lợn, đánh tiết canh… thật không có gì vui như thế… vui như Tết !
– Tất cả là do tự nhiên điều chỉnh hết ! – ông giáo Chi nói – Mình cứ sống thôi ! Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống…Cũng cần phải biết một ít kĩ năng, như cách thiến gà… Phải biết một số cây thuốc cầm máu, biết phân biệt các thứ nấm độc…Tớ có kinh nghiệm không nên tin cái gì đẹp đẽ quá…
Ông giáo Chi đưa bọn trẻ vào rừng, ông chỉ cho họ cách tìm các cây rau ăn được, các cây thuốc, cách tìm phương hướng khi lạc rừng nhờ vào việc xác định rễ ở các gốc cây. Buổi tối, họ ngồi tập hát, ông giáo Chi dạy họ bài hát về nghề dạy học :
” Tôi không quên những giờ lên lớp đầu tiên Khi bước về ngôi trường xa Trang sách trắng tinh Với nét phấn đơn sơ vụng về đừng hỏi vì sao tôi yêu dấu… ”
– Dạy học không có gì khó cả ! Sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi lại nói – Mình cứ hình dung mình là đứa bé, đứa bé cần gì thì dạy thứ ấy… đừng dạy nó thứ không cần…
– Sống dễ lắm ! – Ông giáo Chi lại nói – Giáo dục… nghĩa là tha bổng… Hễ có tội là tha… trẻ con không có tội gì… Sống nghĩa là sai lầm, là mắc tội… Mình phải yêu mạng sống của chúng như yêu mạng sống của mình…
– Thế còn tình yêu ? – Những cô gái trẻ náo nức hỏi.
– Tớ không biết… – ông giáo Chi lúng túng trả lời – Nhưng có sự hi sinh… nghĩa là cay đắng…Tình yêu là mang cho nhau lời nguyện cầu tốt đẹp, những cử chỉ thân tình âu yếm, dục vọng, lòng ham sống… tóm lại là cảm giác…
– Nói dối ! – Một trong hai cậu con trai sầm mặt lại, chửi thề rồi nói khẽ qua kẽ răng. Đấy là Dân, tay thanh niên sinh ra ở thành phố – Nó hơn thế nhiều…
– Cậu thì bao giờ cũng coi cậu đúng còn mọi người là dối trá hết ! – Ông giáo Chi buồn bã nói – Cậu không dạy học được.Cậu chỉ đi chiếm đoạt và áp chế người…Cậu giống ” sếp ” của tôi.
– Để xem – Anh chàng Dân trả lời – Nhưng dạy học đâu có phải là nghề tốt nhất trên đời phải không ?
– Tớ không biết ! – Ông giáo Chi thừa nhận – Có lẽ thế thật !
– Nhưng chúng ta đang nói chuyện về tình yêu cơ mà ? – Các cô giáo trẻ vẫn không bằng lòng với cách giải thích của ông giáo Chi.
– Hỏi làm gì ? Rồi trước sau ai cũng biết hết… – Cậu con trai tên là Hiếu bẽn lẽn chen vào. Khác với Dân, anh chàng Hiếu là một thanh niên nông thôn rụt rè.
– Đúng đấy ! Trước sau gì ai cũng biết hết… Rồi sẽ được ăn đòn cả thôi ! Đừng có vội ! Đừng có sốt ruột ! – Anh chàng Dân nói xong thì cười nửa miệng.
Các cô gái trẻ đòi ông giáo Chi kể về tình yêu. Ông giáo Chi từ chối mãi không được, cuối cùng ông đành nói :
– Có lẽ tớ đã yêu rất sớm… – Ông giáo Chi đỏ mặt thú nhận – Từ khi tớ còn là học trò…Mà người tớ yêu lại là cô giáo. Cô giáo đi vào lớp, tớ ngắm nghía như muốn nuốt chửng cô ta. Sau này tớ rất xấu hổ, rất ân hận…
Hai cậu con trai tỏ vẻ khinh bỉ đứng lên bỏ ra khỏi lớp. Ông giáo Chi ngồi im. Ông biết ông đã dại dột nói ra điều không nên nói. Ông là một nhà giáo dục thất bại. Các cô gái an ủi ông :
– Bố lại bịa, phải không ? Sao bố lại đi bịa như thế để cho người ta coi thường bố ? Chúng con biết bố có một tình yêu cao thượng, có phải không ?
– Ừ ừ… – Ông giáo Chi trả lời – Cao thượng… riêng tư… nhưng tớ có lỗi… tớ ích kỉ… mà lại hèn…Cô ấy là người rất kiên nhẫn mà cuối cùng cũng phải chán tớ.
– Cũng tại bọn đàn bà hay đòi hỏi cơ ! – Các cô gái than thở – Người ta vẫn nói đàn bà với tiểu nhân là một…
– Không phải thế đâu… – Ông giáo Chi cười đau đớn – Đấy là Khổng Tử. Ông ấy là tay say mê chính trị, hắn không có tình yêu, hắn yêu lễ hơn cả tình yêu… mà tình yêu là thứ vô lễ nhất. Tình yêu rốt ráo thậm chí còn là vô luân…
– Thế cũng phải dạy cho bọn trẻ con những điều như thế phải không ? – Các cô gái lại hỏi.
– Phải dạy chứ ! – Ông giáo Chi nói – Nhưng tốt nhất cứ để tự nhiên điều chỉnh là hơn… Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống.Có điều phải trung thành với công việc… Đừng có như hai thằng trời đánh kia ! Tớ thề rằng chúng nó sẽ phản bội nghề dạy học. Cô nào yêu chúng rồi sẽ đau khổ… Chúng nó thì có dạy ai ?Bọn đàn ông, tớ biết rất rõ… Một phần cũng bởi tại giới nữ các cô kích động nữa cơ, chúng nó là bọn láo khoét, không có phúc đức gì đâu… ” Phúc đức tại mẫu “, đã hiểu chưa ? Không hiểu thì rồi sẽ hiểu.
Trong lớp học có Mạ là cô gái mà ông giáo Chi yêu mến nhất. Cô gái nhà nghèo, bỏ quê lên vùng cao dạy học, lúc nào cũng nhường nhịn mọi người, lúc nào cũng tranh làm những việc nặng. Mạ ít tuổi nhất lớp nhưng cô lại có vẻ đàn chị nhất lớp. Sớm mồ côi, phải nuôi hai em nhỏ nên Mạ sớm tháo vát hơn người.
– Con ạ… Sao mày cứ đi làm tranh việc của người khác như thế ? – Ông giáo Chi hỏi cô.
– Con không biết… tại số con nó thế…
– Thôi cũng được… – Ông giáo Chi ngậm ngùi thở dài – Nhưng cũng phải thương lấy thân mình.Thương người là rồi rước hoạ vào thân…
Cứ như thế, từng ngày một, trong nửa tháng trời ông giáo Chi truyền cho đám giáo sinh trẻ những kinh nghiệm, những nguyên tắc sơ khai về giáo dục theo cách của ông. Ông đã từng sống một mình trong gian khó, phải đấu tranh với cái đói, sự hiểm nguy. Ông là giáo viên tiểu học, một viên chức thấp nhất trong ngành giáo dục, ông rất dễ bị tổn thương, rất dễ bị người khác sỉ nhục hoặc coi thường, ông nói ra những kinh nghiệm của ông để bảo vệ thân phận, bảo vệ miếng ăn cũng như nhân cách của ông. Đơn giản mà kiên quyết, không có chút gì khoa trương và khoan nhượng hết.
– Không nên tin ai ! Sống dễ lắm ! Trong gian khó mà tin người là chết ! Tất cả mọi người có khả năng phản bội, kể cả phản bội những đức tính cao quí nhất, vì thế mới có cái chết chứ… Chỉ có một sự bất tử duy nhất là huyền thoại… trong huyền thoại thì tình yêu là thứ huyền thoại vĩ đại và cay đắng nhất…
Khi lớp học tan thì mọi người đã thân thiết với nhau lắm, thậm chí anh chàng Dân còn khoe rằng đã hôn được tất cả các cô gái ở trong lớp học. Họ ghi vào sổ tay của nhau những lời chúc tụng tốt đẹp, những bài thơ… Các cô con gái chép cho nhau cả những bài hát để khi về trường dạy lũ trẻ con… Rồi khóc lóc… Rồi chia tay… Rồi tiễn nhau ra bờ suối. những cánh chim bay đi. Vùng cao xa mờ trong mây núi. Các thày cô giáo trẻ tuổi bịn rịn lên đường, vừa háo hức, vừa sợ hãi, cả vui với buồn lẫn lộn. Ông giáo Chi lội suối trở lại tỉnh lị báo cáo với trên về việc mở lớp ” tập huấn ” của mình.
– Không có tài liệu ! Không có sách vở ! Không có chương trình ! Mình trần thân trụi ! Thế ông làm những trò gì cho những giáo sinh ở vùng cao ấy ? – Người ta hỏi ông.
– Tôi nhen lửa… nghĩa là thổi vào lòng họ vài ngọn gió… Tôi bảo họ sống dễ lắm ! Chỉ có thế thôi !
Người ta cười phá lên :
– Ngọn gió ! Thật là đồ ngu ! Đồ dối trá ! Sống dễ lắm ! Ông đã làm hỏng toàn bộ phương pháp. Rồi ông sẽ biết thế nào là sống dễ lắm !
Ông giáo Chi bị cách chức, bị chuyển đi làm việc khác. Người ta bảo ông :
– Mắt xích giáo dục, ông già ạ, trong chuỗi mắt xích giáo dục thì ông đã làm cho mắt xích vùng cao mất toi, chẳng ra cái gì…
Ông giáo Chi ngậm ngùi xếp đồ đạc vào chiếc ba lô bạc màu ngày trước của ông. Người lính già cảm thấy lòng mình tan nát. Ông đành thôi việc về quê. Sống dễ lắm chẳng phải là một câu nói đùa cửa miệng cho vui sao ? Vùng cao xa xôi trong ông chỉ còn mơ hồ là những đám mây trắng trong dãy núi xa xôi, tiếng cười vô tư lự của đám giáo sinh trẻ tuổi, hình ảnh cô bé Mạ năm nào, cái cô giáo cấp một chịu thương chịu khó có thân hình gầy gò bé nhỏ trông chẳng khác gì một đứa trẻ chăn trâu ở trong xóm núi…
Ba mươi năm sau, ông giáo Chi khi ấy đã thành một ông lão quá tuổi ” thất thập cổ lai hi ” chỉ loanh quanh nơi vườn nhà. Một hôm ông có khách, khách là hai mẹ con nhà kia từ nơi xa xôi đến chơi. Chưa bao giờ ông vui như thế : cô giáo Mạ ngày nào đưa con gái về thành phố đi thi đại học ghé lại thăm thày giáo cũ.
Ông giáo Chi cười không thành tiếng :
– Thế nào ? Vẫn còn nhớ ta ư con ? Sống dễ hay khó hả con ?
Cô giáo Mạ vừa lôi trong túi xách ra những gói quà đặt lên mặt bàn vừa cười :
– Kể cũng thất điên bát đảo nhưng xét cho cùng thì sống dễ lắm ! Bố có nhớ không ? Lớp học ngày ấy có 11 người… chết mất một nửa rồi… Ông Dân bây giờ lên chức to lắm nhưng không còn làm trong ngành giáo dục. Ông Hiếu nghiện nặng, nghiện thuốc phiện, bị đuổi khỏi ngành vì đi sàm sỡ với cả học trò…
– Tớ biết ngay mà ! – Ông giáo Chi than thở – Thằng Dân tham vọng quá, nghề dạy học là nghề quá bé nhỏ với nó. Những tên lưu manh bao giờ cũng phải khua khoắng ở nơi đất rộng có người chen chúc. Thằng Hiếu thì tình cảm quá, không thắng được những bản năng…Chà ! Lũ đàn ông ! Thày bậy thày bạ ! Phúc đức gì lũ chúng mày !
Ông giáo Chi khổ sở, bận rộn với những ý nghĩ trong đầu y như trước mặt ông đang có 11 đứa con giống như ở trên lớp học vùng cao ngày nào.Ông mỉm cười với người học trò mà ông yêu mến nhất, đứa con gái trung thành của ông :
– Hãy kể chuyện đi, con gái… Sống dễ là như thế nào ?
– Cũng đói… Cũng rét… Cũng khổ đủ đường nhưng rồi cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống…
– Thế những đứa khác thế nào ?
– Cũng thế…Bố còn nhớ con bé Thảo không ?
– Cái con bé trắng trẻo, vẫn hay nói lắp chứ gì ?
– Đúng rồi ! Nó yêu ông Dân…Tình yêu đơn phương… Nó bỏ vào rừng, nó cứ đi mãi, nó sa vào tổ ong đất rồi chết. Chỗ ấy mặt đất rất sạch, lại rất phẳng phiu, bên trên không có một ngọn cỏ nào… Cái hố toàn ong là ong sâu hơn bốn mét…
– Khổ ! đã bảo không được tin vào cái gì sạch sẽ cơ mà ! – Ông giáo Chi rên rỉ, nước mắt ròng ròng – Cái con bé xinh thế ! Thật tội nghiệp ! Thế bây giờ mộ nó ở đâu ?
– Vẫn ở trên ấy, bố ạ… Bố còn nhớ dãy núi Đầu Hổ không ? Nó nằm ở đấy 30 năm rồi…
– Thế những đứa khác thế nào ?
Cô giáo Mạ ngồi im một lát như muốn nhớ lại từng người bạn cũ ngày xưa, cô nói :
– Được cái không ai bỏ nghề dạy học… Nhưng hễ đứa nào dính đến yêu đương là chết… Khổ thế đấy ! Đứa nào an phận thủ thường thì cũng vung vinh hơn người…
– Ta đã bảo mà ! – Ông giáo Chi gật đầu – Cứ để cho tự nhiên điều chỉnh là hơn ! Cứ mơ mộng hão huyền là chết… Đừng có lãng mạn viển vông gì cả… Thế còn con ? Con gái của con năm nay thi vào đại học ? Thế bố nó đâu ? Bố nó làm gì ?
Cô giáo Mạ đưa mắt nhìn cô con gái.Cô con gái biết ý bẽn lẽn đi ra ngoài sân.
– Bố nó ngày xưa cũng là thanh tra giáo dục – Cô giáo Mạ thì thào – Anh ấy đi về trường con có mỗi một lần… cũng y như bố, buồn cười, mình trần thân trụi…
Ông giáo Chi cảm thấy nghẹt thở, nước mắt chảy ra ràn rụa. Ông cười không thành tiếng :
– Ừ… Vậy nó là thanh tra giáo dục…Thế nó nói gì ?
– Không nói gì cả…
– Thằng ông mãnh ! Thế là nó khôn…
– Được cái thật thà…Mà khoẻ lắm ! Cứ như lực điền…
– Đúng rồi…Tất cả là ở cảm giác…
– Hồi ấy mùa thu…Hoa cúc nở vàng như mê như man trong thung lũng. Mật ong thì nhiều vô kể… Lũ học trò mang đến cho con bao nhiêu là hoa với mật ong…
– Ừ ừ… ta hiểu… Thế cũng xơi chứ ?
– Vâng… Ăn tham không tưởng tượng được. Toàn mật ong rừng thuộc loại ác chiến…
– Có phải nó đặc sánh mà lại vàng như ánh nắng ở dưới mặt trời phải không ?
– Vâng… vàng như hổ phách… Mà trong suốt.
Cô giáo Mạ ngồi lặng im một lát không nói năng gì. Mãi lúc sau ông giáo Chi mới húng hắng ho. Ông nói nho nhỏ :
– Ở vùng cao ấy, con ạ, không khí rất sạch, rất tốt cho trẻ con đấy !
Cô giáo Mạ như bừng chợt tỉnh, mỉm cười :
– Vâng… được cái không khí thì sạch lắm. Hồi đẻ con bé, con tự làm lấy hết… tự cắt rốn cho nó, tự may vá lấy…
– Thế lúc ấy không có ai à ?
– Không có ai… May mà cũng không nhiễm trùng… Hôm ấy trời mưa rất to…
Ông giáo Chi đỡ lấy chén nước mà cô giáo Mạ vừa rót cho ông, ông nói :
– Con bé của con xinh lắm ? Thế nó ngoan chứ ? Có hiếu chứ ?
– Vâng… Được cái cháu nó cũng ngoan, cũng biết thương mẹ. Con nghĩ thi được đại học thì thi, không được thì thôi…
– Ừ… phải nói với nó là sống dễ lắm… đừng làm nó sợ…
– Con hiểu… – Cô giáo Mạ tần ngần nhìn ông giáo Chi, tự dưng nước mắt ứa ra – Bố già rồi… Thế bố có còn nhớ gì về những nơi ở ngày xưa của bố hay không ?
Ông giáo Chi gật đầu, ông nói rất khẽ cứ như là ông tự nói để cho mình nghe :
– Có… nhớ chứ ! Toàn núi là núi nhỉ ? Mà toàn núi xanh mây trắng…
Một lúc sau, hai mẹ con cô giáo Mạ từ biệt ông giáo Chi để trở về nhà, trở về trường học cũ của họ. Giống như ngày xưa : lại nước mắt, những lời li biệt…
Ông giáo Chi tiễn người học trò rồi mà cứ thẫn thờ tần ngần đến suốt mấy tiếng đồng hồ. Hôm sau, hôm sau nữa ông cứ lơ lửng như người mất hồn. Nhiều lúc, ông giáo Chi bỗng thấy người mình tựa như nhẹ bỗng, nhẹ đến nỗi tưởng như có thể bay lên được kia ! Chao ôi ! Ước gì ông có thể bay lên trời được ! Như những ngọn gió ! Nếu bay lên được thì ông sẽ bay đến những dãy núi xanh xa xôi tít tắp kia, nơi ấy lẩn khuất trong mây trắng và sương mù, nơi ấy không khí rất sạch và khoáng đạt, nơi mà hoa cúc dại nở vàng rực rỡ như mê như man đầy trong những thung lũng hoang vắng không có một bóng người nào.
Phải ! Điều cốt nhất là phải không có một bóng người nào ! Như thế thì sống dễ lắm ! Nhất định rồi ông sẽ về đấy mà ! Ông sẽ về đấy… Ông nghĩ như thế ? Cho ngày mai…Mai…
Hà Nội, tháng 12.1999

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Hai 15, 2017 in Lưu, Nguyễn Huy Thiệp

 

Nhãn: ,

Chúc tết xuân Đinh Dậu

Chúc tết xuân Đinh Dậu 2017

ga-thu-hung

Xuân mới Đinh Dậu năm con gà,

Chúc mọi người nhiều sức khỏe nha!

Công việc hanh thông, nhiều khai phá,

Phấn khởi suốt ngày hát lá la.

 

Quân tử, rõ ràng như gà trống,

Bao nhiêu việc khó chẳng nề hà,

Viber, email luôn cập nhật,

Đêm muộn vợ/ck mắng vẫn cười khà,

Quán triệt tinh thần luôn đúng hẹn,

Đánh giá lúc nào cũng đạt A.

 

Làm thì chăm chỉ như gà bới,

Chơi thì cũng phải đủ hát ca,

Gà bò trâu chó ăn đủ cả,

Bia cùng với rượu, có cả hoa

Năm mới thêm nhiều niềm vui mới,

Tình cảm anh em vẫn mặn mà !

Xuân nay đang đến với mọi nhà

Chúc mọi người nhiều Hạnh Phúc nha,

Lộc biếc, xuân tươi khoe áo mới,

Thăm nhau, ai cũng có nhiều quà…

 

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Một 25, 2017 in Lưu

 

Nhãn: ,

Mưa…

Mưa…
Nguyễn Huy Thiệp

MƯA

Phong vận kỳ oan ngã tự cư(1) (Nguyễn Du) (1)

Ta tự coi mình như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã.

Em, Anh bắt đầu truyện ngắn này lúc 8 giờ sáng trong một quán cà phê tồi tệ nhất thành phố. Quán vắng khách, không ai quấy rầy anh. Trời đang mưa.
Anh ngồi viết… Khuôn mặt em hiện ra trong anh. Em đang ở xa. Em đang ở đâu? Những ý nghĩ của anh hướng cả về em. Em hiển hiện. Em ngồi bên cạnh và sắp xếp những con chữ rời rạc.
Hôm ấy trời cũng mưa, mưa như trút. Anh và em ngồi trong xó tối. Trước mặt chúng ta có hai phụ nữ, một người thấp, một người cao, cả hai đều đẹp. Anh nhắc em chú ý đến cô gái cao, để tóc xõa, mỗi khi cười lại hay ngả người vào ghế. Em hỏi anh tên người ấy. Anh bảo: “Gọi gì mà chẳng được! Tên người cũng là một thứ ký hiệu thôi. Anh gọi cô ta là N.” Em bảo: “Thế người ngồi cạnh là M. à ?” Anh bảo: “Phải.
– Mình biết không? – M. nói – Mình chẳng hiểu gì về hắn. Đời mình sẽ tan nát vì hắn mất thôi. Tớ van mình, mình đừng yêu hắn!
– Không, tớ chẳng yêu đâu. Tớ chẳng dại… – N. cầm một bông hoa trên bàn xé nhỏ. – Nhưng hắn hiền lành và thông minh lắm. Gần hắn, tớ sẽ học được cái gì chăng?.
– Với bọn đàn ông thì người phụ nữ chẳng học được cái gì đâu. Chúng chỉ chăm chăm một việc là đè mình ra giường rồi tỷ tê những lời đường mật. Chúng mình tưởng bở, chúng mình tưởng đấy là tình yêu, là tính người. Thế là hết đời!
– Sao mình ác khẩu thế? – N. thở dài. Họ yên lặng một lúc. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
N. nói:
– Hắn đọc thơ, bằng một giọng trầm, hay không tả được.
– Lại thơ nữa! Thằng đàn ông nào khi quyến rũ đàn bà mà chẳng làm thơ? Chúng làm thơ suốt từ thời người vượn nguyên thủy đến nay, được những bốn nghìn năm rồi.
– Mình hôm nay thế nào ấy. Thế mình lấy chồng, mình có hạnh phúc không?
– ừ, ừm… không biết. Nhưng mà chắc có đấy. Có điều tay chồng tớ đểu kinh khủng. Tớ biết hắn lừa tất cả mọi người. Thế mà trước khi lấy hắn, không hiểu sao tớ thấy hắn cao thượng thế!
N. cười khẽ. Khi cười, mái tóc xõa ở bên thành ghế.
– Mình cho tớ xin một điếu thuốc lá. Từ khi lấy chồng, tớ phải hút trộm… Chồng tớ thấy, hắn sẽ đánh tớ.
– Tại mình cả thôi. Tớ đã bảo đấy là một thằng đàn ông đê tiện cơ mà!
– Tớ rất ghét chồng mình, tớ chưa bao giờ thấy chồng mình nói thật bao giờ. Thôi, số kiếp cả. Làm sao được? Thân tớ thế là coi như xong rồi đấy. Rồi tớ sẽ đẻ con, vào bệnh viện, không hiểu sao tớ nghĩ sau này tớ sẽ bị liệt, thế là hết đời. Nhưng mà mình, tớ van mình, mình đừng yêu hắn!
– Không, tớ chẳng yêu đâu. Tớ chẳng dại…
– Mình thề đi. Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn!
Em hỏi: “Sao thế nhỉ? Sao người ta lại đi can gián tình yêu?”

Anh bảo: “Em đừng sốt ruột. Một người đáng kể thế kia thì chẳng bao giờ thề thốt gì đâu.
M. ngồi hút thuốc. ánh lửa ở đầu điếu thuốc đỏ rực.
– Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn. Mình thề đi!
– Không! Mình đừng bắt tớ thề. Buồn cười lắm!.
– Mình có hiểu một người như hắn tệ hại đến thế nào không? Hắn thích gì hắn sẽ làm nấy. Hắn có thể đánh nhau đấy!
– ừ…
– Tớ đã biết hắn. Hắn rết khinh người. Một người như thế là không tôn trọng ai đâu.
– Nhưng hắn đối xử với tớ rất tốt… Dễ thương nữa.
– Mình chẳng hiểu gì cả! Ai mà hắn chẳng tốt! Hắn bịp bợm đấy! Hắn chẳng coi cuộc sống ra gì. Mình có thấy cách chi tiêu của hắn không? Nếu có một quốc gia trong tay thì hắn cũng chỉ chi tiêu trong năm phút.
– Thơ của hắn lạ lắm!
– Lại thơ! Mình cứ mơ mộng thế là chết đấy! Hắn ham chơi lắm, mình đã thấy hắn đá cầu với một thằng bé con sáu tiếng đồng hồ! Mình cứ tưởng tượng xem, sáu tiếng đồng hồ người ta làm được bao nhiêu là việc!

– Ngộ nhỉ?
– Ngộ gì mà ngộ? Có mà điên!
Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.

– Tớ van mình. Mình cẩn thận đấy! Mình có hiểu tình yêu của một tay đàn ông như thế thì thế nào không?
– Không… Tớ biết sao được.
– Nó sẽ làm lòng dạ mình tan nát như chơi…
– Mình chẳng hiểu gì cả… Hắn chỉ làm mọi việc theo ý hắn thích mà thôi. Khi hắn yêu hắn sẽ quên hết… Mà như thế thì khổ lắm… mà ngượng lắm!
– Sao lại ngượng?
– Thế mình chỉ sống có mỗi một mình thôi à? Mình còn có bạn bè, bố mẹ, lại còn bà, rồi còn sự nghiệp nữa.
– ừ, bà thì rắc rối lắm!
– Chứ còn gì nữa? Hắn sẽ gạt tất cả sang bên. Hắn sẽ cười vào mũi tất cả, cười rất khả ố… – – Hắn chẳng coi mọi sự là cái gì đâu! Tớ cấm mình yêu hắn đấy!
– Ừ!
– Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Thơ của hắn rất lạ… chẳng có đầu có cuối gì cả. Này nhé:
“         Chính bi thế mà na đêm ta dy

Lang thang khp ph phường.”

– Bởi cái gì?
– Ma nào mà biết được? Tớ cũng hỏi hắn thế…Hắn cười, hắn cũng không biết nốt. Hắn chỉ lên trời…
– Lại thế nữa… Thế là điên rồi đấy!
– Mà còn thế này nữa:
“Ta nhổ một cái lông chân

Đem so xem nó có giống lông trâu không?
Ta ký một hợp đồng

Và ra sức lùa gió về

Trong căn phòng trống trải của ta…””

  1. nhỏm người lên:
    – Ký hợp đồng với ma quỷ đấy! Chắc chắn thế! Tớ biết mà… Hắn không chơi với người đâu, hắn chỉ chơi với ma quỷ thôi…
    – Hắn có thể chết bởi những điều rất vớ vẩn… Mà hắn cả tin lạ lùng.
    – Thôi đi… Tớ van mình. Mình đừng mơ mộng nữa. Cả tin với không cả tin. Tất cả đều một giuộc!
    – Quả thực, tớ chưa thấy người nào đáng kể như hắn. Hết sức nồng nhiệt, tối tăm như đêm tối, lại chính trực nữa…
    – Mình yếu đuối lắm!
    Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.

– Này, tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Ừ…

Em hỏi: “Tình yêu là gì?”

Anh bảo: “Đây là nét phong nhã bậc nhất của đức hạnh. Không phải người nào cũng hiểu được đâu .

Em hỏi: “Sao khi yêu nhau người ta hay làm thơ?”

Anh bảo: “Tình yêu sinh ra tài năng. Thơ là thứ tài năng tầm thường nhất.”

Em bảo: “Tài năng nào mà chẳng tầm thường…”

Anh bảo: “Có một thứ tài năng không tầm thường.

Em hỏi: “Anhbiết à? Anh bảo: “Biết!

Em hỏi: “Anh có nó không?” Anh bảo: “Có!  Em bảo: “Thế thì em yêu anh!
– Này, tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– ừ…
– Để tớ kể mình nghe chuyện này. Ngày xưa hắn đã yêu một thiếu nữ. Cô ấy con nhà gia giáo. Mình có biết một thiếu nữ trinh thục là thế nào không? Môi cô ta lúc nào cũng thắm đỏ. Đáy mắt cô ta ánh xanh như vỏ trứng chim sáo. Cô ta được nuôi dưỡng bằng truyện cổ tích và toàn cơm tám giò chả. Một thiếu nữ được nuôi như thế thì da trắng hồng.

– Thôi, mình bỏ trò miêu tả ấy đi. Khó chịu lắm. Một thiếu nữ trinh thục là rất khó chịu…
– ừ, thật thế đấy. Hắn đến… liệu hắn có biết thứ quà tặng gì đối với cô ta có thể làm chết người như là tình yêu của hắn hay không? Tớ cũng tin hắn yêu say đắm. Một cô gái như thế thì sao lại không yêu được? Có thể khi đến với cô ta, lòng hắn sẽ yên tĩnh lại, sẽ không sôi réo nữa. Hắn sẽ tu thân, hắn không du côn và lêu lổng nữa. M. im lặng, cô ta lại châm một điếu thuốc lá. Ánh lửa ở đầu điếu thuốc đỏ rực. Nghe rõ tiếng mưa rơi…

Thế… Không thể nói rằng hắn là kẻ vô giáo dục được. Hắn chỉ hơi dám đến gần cô ta. Không phải là hắn yêu đâu, hắn chiêm ngưỡng, hắn thờ phụng cô ta như thể người ta thờ phụng Đức thánh Trần.
– Sao lại Đức thánh Trần?
Tại vì đây là thứ tình yêu chẳng có hôn hít gì cả. Chỉ có tình yêu với Đức thánh Trần mới như thế chứ…
– ừ. Tớ hiểu rồi. Kể cũng kỳ lạ đấy. Hình như bây giờ hắn đã bạo hơn…
– Mình im đi. Tớ van mình, mình không được nghĩ gì về hắn nữa đấy.
– ừ – Thế… hắn với cô ta như thể hai người trong mộng. Cô ta héo hắt đi vì hắn. Mình tưởng tượng xem… Một cô gái mới lớn, lần đầu tiên biết yêu. Còn hắn, một con dê xồm mồ hôi dẩu, cười nói thản nhiên như côn đồ. Hắn có thể trồng èây chuối trước mặt bố mẹ cô ta. Bố cô ta là một trí thức, ông treo ảnh danh nhân trên tường, yêu thích văn học cổ điển, nhạc cổ điển và chính trị cổ điển. Còn hắn, hắn biểu diễn âm nhạc bằng cách thọc hai ngón tay vàò miệng…
– Ngộ nhỉ?
– Ngộ gì mà ngộ… Hắn bắt một con thạch sùng rồi để lên bàn. Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng ấy. Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức.
Hắn cho rằng đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất…
– Thật quá quắt!
– Đấy mình bảo như thế thì ai chịu được.
– Không chịu được thật…
– Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn!
– Được rồi.: Thế tình yêu của hắn với cô gái kia thế nào?
– Hắn quyến rũ cô ta, hay là cô ta quyến rũ hắn… Cũng chẳng biết được. Họ say mê, quyến luyến nhau… Xa cô ta một ngày là hắn gây sự. Kể ra cũng không thể phàn nàn gì về một tình yêu như thế. Quả thực, nếu đấy không gọi là tình yêu thì tớ cũng không biết thế nào là tình yêu nữa…
– Tớ hiểu rồi… Tớ biết rất rõ.
Mình lại nghĩ đến hắn phải không? Tớ cấm đấy. Tớ van mình… Mình đừng yêu hắn…
– Ừ. Mình kể tiếp đi.
M. lại hút thuốc. Im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
Em hỏi: Cuộc sống cơ bản là buồn, phải thế không?

Anh bảo: Không có tình yêu buồn.

Em hỏi: Anh này, hai cô gái kia thì ai hạnh phúc?

Anh bảo: Một cố vừa đánh buột mất hạnh phúc. Còn cô kia đang có hạnh phúc trong tay, nhưng không khéo cũng đánh vuột mất!”

  1. kể tiếp:
    – Họ yêu nhau. Hắn đính hôn với cô ta. Mọi người ngăn cản. Hắn khuyên cô ta trốn…
    – Trốn đi đâu?
    – Chắc là phải trốn đến nơi nào thật lạc hậu.
    – Sao thế – Thì những nơi văn mình ai chứa được một người như hắn? Không có gì với hắn là quá cao, cũng chẳng có gì với hắn là quá thấp…
    – Họ trốn chứ?
    – Đúng vào phút cuối cùng thì họ từ bỏ ý định, tử bỏ lời thề.
    – Khốn kiếp?
    – Ừ – Hắn có quay lại không?
    – Một người như hắn thì đời nào quay lại?
    Lòng cao thượng của hắn là lòng cao thượng của quỷ chứ đâu phải của người! Hắn biết rằng chỉ vì một cô gái thì không đáng để hắn hi sinh cuộc đời, dù rằng đấy là một cô gái trinh thục, môi lúc nào cũng đỏ thắm, da trắng hồng…
    Hắn đi luôn à?
    – Phải! Hắn đi luôn… mất tăm mất tích. Hắn đặc biệt nhạy cảm với sự nhục mạ…
    – Sau dó thì sao?
    – Cô ta ốm lăn lóc nhưng không chịu uống thứ thuốc hắn gửi đến, thuốc mà làm gì… Thời gian trôi đi. Cô ta bắt đầu tiêu phí dời mình. Cô ta hiểu rằng không có một người đàn ông thứ hai như thế…
    Họ lại ngồi im lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi. – Này… Tớ van mình. Mình đừng yêu hắn. Hắn không có lòng đại lượng. Hắn không tha thứ cho ai… Mình, mình đừng yêu hắn. Hắn là quỷ sứ!
    N. lục lọi đâu đó trong túi rồi đặt lên bàn một tấm ảnh nhỏ.
    – Ảnh hắn đấy…
    – Mình… tớ van mình… Mình đừng yêu hắn.
    Mình hãy đốt tấm ảnh ấy đi… Hãy xé đi…
    – Mình…
    – Không! Phải tự tay mình! Mình xé nó đi!
    N. cầm bức ảnh trên bàn lặng lẽ xé nhỏ.
    Chớp lóe sáng. Có tiếng sấm rền. Nghe rõ tiếng mưa rơi.
    – Khốn nạn!
    Mình bảo ai khốn nạn?
    – Mình không hiểu đâu… Mình không biết rằng sau mối tình ấy cuộc đời trở nên khốn nạn thế nào?
    – Cô ta còn sống à?
    – Không, cô ta chết rồi! Tâm hồn cô ta chết rồi. Cô ta chỉ còn hình hài. Cô ta thành kẻ đê tiện. Cô ta lấy chồng. Chồng cô ta cũng đê tiện nốt. Hắn ăn cắp rất giỏi. Hắn đánh cô ta mỗi khi cô ta hút thuốc.
    – Tớ không hiểu… Thế là thế nào?
    Mình… Tớ xin lỗi mình… Mình đã xé tấm ảnh đi rồi… Mình đã làm điều mà tớ mong muốn… Họ ngồi yên lặng. Nghe rõ tiếng mưa rơi. Bỗng nhiên cả hai khóc òa. M. nói, giọng đầm nước mắt:
    – Tớ xin lỗi mình… Thế mình tưởng tớ tha thứ cho mình vì mlnh xé tấm ảnh đi ư?
    – Mình… mình sao thế?
    – Mình chẳng hiểu gì cả? Mình tưởng tớ kể như vậy là lòng tớ thư thái hay sao? Sẽ thanh thản hay sao? Mình không biết tớ đã rứt từ tim tớ từng mảnh thịt một…
    – Mình… mình… Sao thế mình…
    – Mình tưởng tớ sẽ tha thứ cho mình vì mình độc ác thế à? Không, mình hiểu không? Nếu cần, tớ sẽ bỏ chồng, bỏ hết để đi theo hắn. Hắn vào tù thì tớ đưa cơm. Tớ sẽ theo hắn cùng trời cuối đất… Chỉ cần hắn quay lại… Nhưng hắn sẽ không bao giờ quay lại.
    – Giời ạ. Sao mình lại kể, sao mình lại kể?
    – Vì sao ư? Vì tớ không muốn… Mình hiểu không, tớ không muốn hắn rơi vào tay một người đàn bà nào khác, rơi vào tay mình.
    N. đứng dậy đi ra ngoài trời. Một lúc sau, M. cũng đi ra nốt. Nghe rõ tiếng mưa rơi. Tiếng mưa rơi buồn không tả được.
    Em hỏi anh: “Cuộc sống cơ bản là buồn phải thế không?” Anh bảo: “Không”. Em hỏi: “Người đàn ông mà hai người nói chuyện ấy là ai?” Anh bảo: Không biết.
    Em hỏi: “Là công nhân, nông dân hay thợ thủ công?” Anh bảo: “Không biết. Em bảo: “Chắc là nghệ sĩ. Vì cô ta có đọc thơ”. Anh bảo: “Thơ gì lại thế? Em có muốn nghe thơ anh không? Thơ của anh cũng có nhổ lông.” Em bảo: “Thôi, để khi khác. Nhưng em áy náy quá, không biết hắn là ai.“ Em bảo: Em thấy cô ta cầm tấm ảnh in trên tờ báo. Chắc là một nhà chính trị”. Anh bảo: Không biết”. Em bảo: Hắn thật đáng kể.
    Mưa.
    Ngoài trời kia vẫn mưa. Khuôn mặt em hiện ra trong anh. Em đang ở xa. em ở đâu? Những ý nghĩa của anh hướng cả về em. Bây giờ là 2 giờ chiều. Anh đã ngồi viết truyện ngắn này sáu tiếng đồng hồ. Sáu tiếng đồng hồ liền.
    Sáu tiếng đồng hồ. Nhân vật chính trong truyện của anh đá cầu sáu tiếng đồng hồ. Cái thằng vô lại ấy! Một tên cao cầu bất hủ!
    Em ở đâu?
    Ngoài kia trời mưa. Bao giờ thì em về? Hả em?

Post lại vào một ngày mưa dài, rỉ rắc…11.1.17

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Một 11, 2017 in Nguyễn Huy Thiệp, Truyện

 

Nhãn: ,

Đất nước của những thằng lười…

Đất nước của những thằng lười…

Đất nước của những kẻ lười biếng

Đây là một bài viết tôi sưu tầm được, nhưng tôi phải nói trước với bạn đọc là ngôn từ của nó không hề ngọt tai, nếu bạn chưa sẵn sàng nhìn nhận thực tại bản thân hay thế hệ, có lẽ bạn sẽ thấy một chút khó chịu khi đọc.

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Bạn có biết lý do chính dẫn tới việc nước Việt ngày càng sa sút? Câu trả lời là: LƯỜI!

Người ta cứ đang kéo cố gắng đất nước này đi lên. Hàng loạt bài báo được viết nên. Trong đó chỉ ra rằng đất nước này đang bị ô nhiễm hóa, đang bị bóc lột hóa, đang bị bất công hóa, và đang bị căng thẳng hóa… Nhưng rồi các bạn biết được điều gì là quan trọng? Ừ, CHẲNG AI THÈM ĐỌC NHỮNG BÀI BÁO ĐÓ. Nghĩa là người ta không biết chuyện gì đang xảy ra chung quanh họ, không biết được mức độ căng thẳng leo thang của thế giới xung quanh. Tóm lại là, người viết thì cứ viết, người chơi thì cứ chơi, không ai thèm đọc. Dĩ nhiên là ta đang nói đến số đông thôi.

Vậy ra, người ta đang cố gắng thay đổi mọi thứ ở phần ngọn. Nghĩa là kêu gọi những con người đã góp sức gây nên hiện trạng này, hãy thôi đừng phá hủy đất nước nữa, hãy thôi xả rác, hãy thôi chém giết. Đó là một ý tưởng điên rồ. Kêu gọi người từng sát hại đất nước này hãy suy nghĩ lại, rũ chút lòng thương, đừng phá hoại nữa.

Bạn biết vì sao mà đất nước này cứ thụt lùi, thậm chí bây giờ thua cả Lào và Campuchia không? Nếu bạn định trả lời là chính phủ thì hãy tạm gác lại cái ý nghĩ đó. Bởi vì vấn đề là dân chúng ở đây mang một căn bệnh nan y không thể chữa nỗi: LƯỜI!

LƯỜI VẬN ĐỘNG, TẬP THỂ DỤC

So với số người tập thể dục, thì số người không tập chiếm gấp nhiều lần, nếu không muốn nói là áp đảo hoàn toàn. Bạn không tin? Sáng thức dậy 4 giờ sáng chạy bộ. Rất nhiều ông cụ, bà già sẽ chạy cùng bạn. Số trung niên cũng rất nhiều. Còn số thanh niên thì chiếm trên đầu ngón tay thôi nhé.

Mà không tập thể dục thì chẳng đào đâu ra sức khỏe, không có sức khỏe thì làm cái gì cũng mau mệt, mau mệt thì sẽ nhanh chán, mà nhanh chán thì sẽ sớm bỏ cuộc. Những người có sức khỏe yếu thường làm mọi việc qua loa. Tin tôi đi. Họ không chịu đựng nỗi bất cứ chuyện gì hết. Đó là khi chúng ta nên nói tiếp các kiểu lười khác là hệ lụy của lười vận động.

LƯỜI HỌC

Cái này thì khỏi nói rồi. Trừ các học sinh trường chuyên và công lập, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười. Khoan hãy nói đến việc kiến thức có hàn lâm hay không, có khó nuốt hay không, có kém thực tiễn hay không. Mà hãy tự hỏi, tại sao lại như vậy? Không ai chịu đựng nỗi 2 3 tiếng học bài ở nhà. Nói trắng ra là họ quá lười chịu đựng. Alan Phan đã từng nói rằng ông không hiểu tại sao một đất nước dân số vàng như Việt Nam lại có vẻ lù khù như các cụ già đến vậy.

Bạn hỏi tại sao? Hãy tạm trách Internet, Smartphone, Karaoke, Nhậu nhẹt, Lotte, Starbuck và các loại ăn chơi thời hiện đại nhé. Bạn lại hỏi tại sao nữa à? Bởi vì đó là thách thức của thời đại này. Thú vui hưởng thụ bao vây xung quanh, nhan nhãn đông tây nam bắc hướng nào cũng có. Tại sao phải chịu đựng học bài khi tụi bạn đi nhậu, đi hẹn hò, đi Lotte? À, quên nữa, đừng ai nói với tôi một câu mà đứa trẻ trâu nào cũng biết: Cái nào cũng có mặt lợi, quan trọng là đừng dùng quá liều lượng. Bởi vì, không có mấy ai biết kiểm soát chính họ ở cái vùng đất này đâu.

LƯỜI LÀM

Tất cả những người chủ ở Việt Nam đều khó tính, họ thường đốc thúc công nhân của mình. Bởi vì họ biết, không đốc thúc, bọn công nhân chỉ ngồi chơi, và làm kiểu đối phó, chủ tới thì luôn tay luôn chân, chủ đi thì phì phèo điếu thuốc, thậm chí là lướt facebook chat chit nữa là đằng khác. Nếu cha mẹ bạn là người trả tiền cho công nhân, chắc bạn sẽ rõ điều đó hơn cả.

Bạn hỏi vì sao họ lười làm, họ bắt đầu lười từ khi nào? Vì sao? Vì họ chẳng có thích thú gì với công việc. Bởi vì họ từ cái giây phút họ lười học, họ chẳng có kiến thức gì để giải quyết vấn đề nên họ chẳng muốn xảy ra thêm vấn đề gì nữa. Mà đấy, cách hay nhất để không có vấn đề gì để giải quyết là ngồi chơi. Làm việc thì tạo nên vấn đề, giải quyết vấn đề chính là một bước thăng tiến. Nhưng họ lại sợ gặp vấn đề biết bao. Không giải quyết được lại bị chửi, lại bị sỉ nhục, lại quê với người khác. Nên họ thà làm người nhàn rỗi tay chân, áo sạch đồ đẹp, không một vết bẩn còn hơn lấm lem mồ hôi, nhếch nhác không ai thèm dòm.

LƯỜI SUY NGHĨ

Lướt dạo hết vòng facebook là điều bạn có thể làm ngay. Nếu facebook bạn không có gì đáng để xem, không có gì để làm bạn cảm động, làm bạn thấy phải nhìn lại bản thân mình thì bạn chính là một ví dụ. Còn nếu có thông tin gì đó hay, viết về thực trạng của đất nước, về ô nhiễm môi trường, về động vật tuyệt chủng, hay các bài viết học thuật, hãy xem nó được bao nhiêu người like? À, thường thì không có bao nhiêu người like đâu. Không tin lướt ngay facebook là biết.

Chúng ta không có gì để học sao? Hay chúng ta chỉ quan tâm về tự sướng, em nào đẹp, em nào xài camera 360, anh nào GAY, chỗ nào chơi tốt, khu nào ăn ngon, quần áo chỗ nào bán đẹp? Nếu facebook của bạn không có bất cứ cái gì liên quan tới học thuật, kiến thức, thay vào đó là 90% ảnh girl xinh, trai đẹp, hãy yên tâm một cách chắc nịch rằng bạn là một trong những đứa lười suy nghĩ bậc nhất thế giới.

LƯỜI TRANH ĐẤU

Cái này thì khỏi phải nói luôn rồi. Cha chung chả ai khóc mà. Đất nước ngày càng đi xuống thì cũng mặc. Nói thật, chả ai quan tâm cả. Những người có tâm, những người làm báo cứ như những kẻ thui thủi một mình tự kỷ vậy. Bài nào họ viết ra, họ tự đọc, chả mấy ai đọc nói chi đến like và comment. Đi chơi noel xong rác thải đầy đường để phải viết lên báo, cũng chả cần thấy nhục mặt cho bản thân hay cho đất nước này, cứ thế năm nào cũng vậy, cũng lên báo, rồi cũng thôi, vì chẳng ai còn hơi sức để nói nữa.

Thờ ơ là căn bệnh của người Việt. Nếu không tin, search bài báo: “Người Việt vô cảm thứ 13 thế giới” là biết. Họ chẳng muốn tranh đấu. Họ chẳng muốn gì cả ngoài việc hưởng thụ những gì đang có. Tài nguyên chúng ta bán, cây rừng chúng ta cưa, voi rừng chúng ta giết, thú rừng chúng ta ăn, chả còn gì mà chúng ta “tha” cả. Khai thác triệt để cho thế hệ này tận hưởng, có thể đoán là trong vòng 10 năm tới sẽ cạn sạch. Nhưng mọi người thì cứ thờ ơ để mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Miễn là họ không ở những vùng hiểm trở, thiên tai; miễn là họ không bị gì hết. Càng ngày, người ta càng rút về thành thị, co cụm, bạn thấy không? Cả đám ăn chơi phè phỡn với nhau, rồi chuốc độc nhau trong từng thớ thịt, dĩa cơm… Nhưng không ai muốn tranh đấu! Chẳng ai muốn cả, vì họ bận phải hưởng thụ sự hiện đại này.

Đấy là những thế hệ đã được đào tạo. Việt Nam thuộc loại khủng của thế giới trong việc chi ngân sách cho giáo dục. Họ đã làm gì, và chúng ta đã tôi luyện bản thân như thế nào? Có khi nào chúng ta thấy nhục nhã, chẳng cần gì cao siêu, mà chỉ bởi vì chúng ta vừa quăng một cục rác xuống đường. Ai đó nhắc nhở, và chúng ta phản bác: TRƯỚC SAU CŨNG CÓ NGƯỜI QUÉT THÔI. Liệu có bao giờ chúng ta thấy nhục mặt vì cái độ lười nó ghê tởm đến nỗi những con chó thông minh, biết đi ị đúng chỗ cũng phải khinh thường?

Những thế hệ đi qua, và những bài học của các bậc mẹ cha ngày càng thực dụng. Bạn không thấy xã hội này quá co cụm từ khi bạn chuẩn bị cắp đồ lên thành phố học? 99,9% tôi đảm bảo sẽ được nhắc: Giữ tiền cẩn thận nha con, trộm cắp dữ lắm; Ở ký túc xá coi chừng nhà con, trộm cắp phức tạp lắm; ở Sài Gòn cẩn thận nha con, dân tứ xứ chẳng biết ai là ai đâu…

Bạn đã từng nghe, chắc chắn như vậy, và hãy thừa nhận là lũ người xung quanh bạn thật gớm ghiếc. Và bạn, tôi chỉ đích danh bạn đó, cũng chưa chắc là một trường hợp đặc biệt gì ngoài lũ gớm ghiếc đó đâu. Một lũ tệ hại, cười với nhau những nụ cười giả tạo, đôi tay vịn chắc túi tiền và trôi vào dòng cuộc sống. Chúng ta chắp vá đất nước này, rách chỗ nào vá chỗ đó, nhưng đúng như Lưu Quang Vũ nói: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá, gượng ép chỉ càng sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc làm đúng khác.”

Nhưng chúng ta chẳng quan tâm lời dạy này. Chúng ta chắp vá nhiều hơn là đằng khác. Ai đó đút lót, chúng ta đút lót nhiều hơn. Ai đó đối phó để được điểm cao, chúng ta quyết tâm biết được đề thầy sắp ra giờ kiểm tra. Ai đó quăng rác bừa bãi, chúng ta quăng rác một cách tinh vi. Ai đó lừa đảo ta, ta học cách đó để lừa đảo lại người khác. Và chúng ta có một xã hội như ngày hôm nay. Chẳng ra một cái gì cả.

Một dân tộc ghê tởm nhau, đề phòng nhau đến những chuyện nhỏ nhặt đến như vậy thì làm sao còn đầu óc để đầu tư vào những thứ tiến bộ khác hơn? Một xã hội co cụm, những ánh mắt đầy hoài nghi, ghê tởm thay cho chúng ta!

Chúng ta lười mọi thứ. Chúng ta lười vận động, rồi thì sức khỏe chúng ta kém, sức chịu đựng không có nên chúng ta nhác học, lười làm, buồn ngủ khi phải nghĩ và chán ngán khi phải chịu đựng. Tất cả những gì chúng ta có là đối phó, từ trong ra ngoài. Không đối phó bằng cách hối lộ tiền, thì đối phó bằng cách mua bằng cấp giả, nếu không được thì học đại cho xong, và trong lúc học cũng đối phó với thầy cô. Vâng, chúng ta đối phó n+1 các loại. Nhưng điều làm tôi ghê tởm hơn cả tật đối phó, chính là không thèm đối phó nữa mà sẵn sàng thải rác ra đường như không giữa ban ngày ban mặt, buông lời tục tĩu, dâm dục giữa thiên hạ. Số đó không hề ít, xin chớ coi thường.

Chịu đựng! Những người đi ra từ chiến tranh với sức chịu đựng ghê gớm lại nuôi dạy con họ một cách đầy nuông chiều. Quá nhiều người đi ra từ chiến tranh, quá nghèo khổ để nói đến đức hạnh, tất cả những gì họ lo lắng là tiền, là mưu sinh. Đó là lý do chúng ta ở đây. Cả một lũ không được giáo dục tốt. Cả một lũ đang làm đất nước này đi xuống. Đó không phải là lỗi của họ, hãy thông cảm vì điều đó. Họ đã cố phải xây dựng lại mọi thứ từ đống tro tàn. Nhưng còn chúng ta thì sao? Được nuông chiều từ nhỏ tới lớn, chẳng phải chịu đựng bất cứ cái gì, và giờ thì sẵn sàng ngồi quán cafe chém gió suốt ngày.

Bạn biết bọn nhậu nhẹt và ngồi quán cafe chém gió thường nói gì khi gặp nhau? Tao mới xin làm chỗ kia, lương 4 triệu mà toàn ngồi chơi. Liền lập tức, thằng đối diện sẽ bảo: NGON VẬY!

Cái tư duy ở xứ này là: Ngồi chơi và “khỏe”! Nhưng yên tâm đi, vũ trụ rất công bằng. Cái chỏm nhỏ ở chỗ này trước sau gì cũng bị trừng phạt nếu tiếp tục tồn tại theo kiểu đó.

Nếu bạn muốn thay đổi đất nước, nếu bạn đã 18 hay 20 tuổi hoặc hơn, hẳn là bạn cũng sẽ sớm trở thành những ông bố, bà mẹ. Thế nên, hãy chuẩn bị cho thay đổi, không cần biết trước đây bạn được giáo dục như thế nào, hãy chắc rằng, bạn sẽ trở thành hình mẫu mà bạn muốn con cái mình trở thành trong tương lai.

Đừng uống cạn tài nguyên này, đừng ăn mặn để con cháu khát nước. Đừng để thế hệ nối tiếp thế hệ sống cuộc sống như thế này. Và xin cũng đừng, đừng xấu xa cho đã để rồi sau này bắt con mình trở thành một người tốt. Con nít học qua hình ảnh, nó bắt chước tất cả những gì nó thấy. Đừng bao giờ cho phép bản thân tệ hại, và dạy con bằng cái lối nói rằng bạn dù có xấu xa thế nào cũng là hy sinh cho tương lai của nó. Bởi vì, cách đó nhàm quá rồi, một lời biện hộ không có nghĩa gì hết.

Tôi biết là Việt Nam vẫn chưa đến lúc có một cuộc cách mạng cải tổ lại tư duy người Việt. Nhưng từ giờ cho tới lúc đó, hy vọng tôi có thể giúp ai đó hiểu rằng, hãy luyện tập, hãy chịu đựng để bước đi những ngày tháng trưởng thành. Bạn không thể lớn thêm nếu không chịu đựng. Nếu bạn muốn đi lên, bạn phải chịu đựng, dù xung quanh không có ai hỗ trợ bạn, dù xung quanh mọi người đang say ngủ…

NẾU BẠN MUỐN TRƯỞNG THÀNH, HÃY CHỊU ĐỰNG

Trong nghĩa của từ chịu đựng, không có lười biếng. Trong nghĩa của từ chịu đựng là sức mạnh. Mỗi một cá nhân có sức mạnh, khỏi cần phải bàn tới chuyện đất nước có đi lên hay không, vì đôi tay của họ thậm chí có thể nhấc bổng cả bầu trời…

(Nếu bạn nào đặt một dấu chấm hỏi vì sao bài trước tôi viết là chẳng có ai lười thì bài này tôi lại đỗ lỗi cho việc người ta lười, thì xin hãy hiểu rõ là trong 2 bài tôi đang đề cập đến 2 chuyện khác nhau. Bài trước là cảm thông với những người chưa tìm ra họ là ai trong cuộc đời. Bài này nói về những con người xung quanh tôi mà đầu óc bị mụ mẫm hóa hết rồi, không còn biết gì ngoài những lạc thú tầm thường nữa).

(Kiến Thức trẻ)

/From Email: Thai Nguyen quang thai.nguyenquang@gmail.com/

Nguồn: http://bongbvt.blogspot.com/2017/01/at-nuoc-cua-nhung-ke-luoi-bieng.html

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Một 6, 2017 in Lưu

 

Nhãn: ,

Sự tích những ngày đẹp trời

Sự tích những ngày đẹp trời

Sự tích những ngày đẹp trời – Hòa Vang

để nhớ HÒA VANG

 Như mọi người đều biết: trong hội thi kén rể của Hùng Vương, phần thắng về Sơn Tinh, Thủy Tinh là người bại. Rồi theo cái lẽ thắng thua, định phận, định phần ấy mà Mỵ Nương theo Sơn Tinh về núi Tản, nên vợ nên chồng. Còn nước các triền sông lớn thì cứ hằng năm, đến kỳ, lại sôi sục, cuồn cuộn dâng lên như ghen cuồng, uất hận khôn nguôi…

Lại cứ theo thế mà suy, sai cũng coi là cố nhiên, không còn gì phải đôi hồi, bàn cãi, và không thế, thậm chí không được nghi ngờ; vợ chồng Sơn Tinh sống rất hạnh phúc, tốt đẹp, mẫu mực tuyệt vời…

Mà sự thực quả đúng là như thế.

Nhưng, có điều, còn có một cái lẽ cố nhiên khác nữa, riêng nhỏ âm thầm, cái lẽ cố nhiên trong lòng những người con gái lấy chồng xa: nỗi nhớ nhà.

Mỵ Nương nhớ nhà, nhớ cha mẹ lắm. Mà Sơn Tinh thì bận lắm. Vợ lại hết mực trọng chồng, không muốn một bợn nhỏ làm bận lòng chồng. Chồng thì xiết bao tin vợ và tự tin mình. Niềm tự tin lúc nào cũng dày dặn, bền chắc. Cho nên nỗi nhớ của Mỵ Nương cũng phải chịu phận sống len lỏi âm thầm, có lúc còn phải tàng hình, tan biến vào những ánh mắt chào đón rạng rỡ, vào những nụ cười hơn hớn tươi vui. Mà càng như thế, thì nỗi nhớ ấy, cái lẽ cố nhiên ấy, lại càng day dứt, ngún cháy nồng đượm, cồn cào.

Mỗi năm, Sơn Tinh đưa vợ về thăm lại quê nhà một lần. Là người trí lực kiên cường, quảng kiến và ngăn nắp, đã bao nhiêu năm Sơn Tinh chưa một lần thực hiện sai chệch những ấn định của mình. Những ngày về thăm Phong Châu ấy bao giờ cũng thật huy hoàng, chu đáo, tuyệt hảo.

Mỵ Nương biết ơn chồng lắm. Nàng cố nương theo, khuôn mình, không để cợn cạo trong cái dòng chung huy hoàng, chu đáo, tuyệt hảo ấy… Để chờ cái phút được chạy gấp tới, ùa vào lòng cha mẹ, mặc những giọt nước mắt mừng tủi ứa ra… Chưa nói đến những ngày vui ấy trôi qua thật nhanh, thật bé xíu, ngắn ngủi. Bao giờ, bao giờ cho đến ngày này sang năm nữa?

Tự nhiên một hôm Mỵ Nương đánh bạo xin phép Sơn Tinh cho nàng về thăm quê một mình. Và Sơn Tinh, như thường khi, lập tức bằng lòng.

Đường về Phong Châu, Mỵ Nương đi như gió chạy, nhẹ bỗng, tung tăng. Miệng chỉ chực cười, chực reo, chực hát.

Về được một ngày, trọn vẹn riêng tư với cha mẹ, anh em, sớm hôm sau, buổi sớm đầu tiên thức dậy tại quê cha, chợt Mỵ Nương xốn xang muốn dạo ngược lên núi, tới tận con suối nhỏ đầu nguồn, nơi nàng nhớ mình đã tắm lần đầu, từ khi biết nhớ, biết nghĩ, từ khi mình còn là một cô bé. Từ xa, đang còn nhón gót lướt trên những giọt sương mai long lanh đầu những ngọn linh thảo xanh mởn, Mỵ Nương đã nghe tiếng róc rách. Tiếng róc rách như cả tuổi thơ thóc mách, giòn giã mà thổn thức, đang đợi nàng đã bao nhiêu năm…

Khoang suối trong vắt như vành gương trước mặt. Hơi nước lượn vờn như sương khói khơi vơi huyền ảo. Cái mát tinh khôi thấm vào da thịt. Tự nhiên Mỵ Nương nghẹn ngào. Diềm mi ấm dội lên, nước mắt ứa ra. Mà môi nàng là nét cười, nét cười thơ dại, ngây ngây.

Ngoắt đầu, phẩy tay điệu đàng và thoáng chút nghịch ngợm, ra hiệu cho những thị nữ theo hầu cuối cùng rời gót. Bước xuống viền suối, để nước vờn liếm quanh bàn chân đỏ dậy của mình. Mắt nhìn xuống, như hút lên, như thấm cái mầu đỏ hồng ấy lan tỏa cả lên gương mặt. Thong thả ngoái lại sau… không còn ai cả.

… Mỵ Nương cởi xiêm y.

Ngấn nước vừa chớm chạm ngực thì, như không nén nổi nữa, Mỵ Nương bất giác đưa hai tay vuốt xõa đổ suối tóc mây bồng bay lên, giang hai tay, mắt nhắm nghiền lại, nàng nhảy ào, trằn mình uốn lượn giữa dòng suối và buột lên tiếng hát trong vắt.

Chợt tiếng hát ngừng bặt, Mỵ Nương thốt rùng mình. Nàng hoàn toàn cảm thấy, không thể nhầm lẫn, dòng suối đang ôm xiết vuốt ve lấy thân thể nàng là một đôi tay cường tráng mà đắm đuối, dịu dàng của một da thịt, một con người… Mỵ Nương thoáng nghe thấy, lọc qua tiếng nước rì rào, róc rách, có tiếng đập gấp gáp rộn ràng, như dưới đáy suối có một trái tim bồi hồi. Tự nhiên, Mỵ Nương giang rộng đôi tay ôm nước, như đón nhận… rồi đột ngột quẫy mình, quay ngoắt vào bờ, với lấy váy áo.

Mỵ Nương đã ở trên bờ đá. Những giọt nước tí xíu vẫn đang trôi bịn rịn trên da thịt nàng, trước khi tuột hẳn, nhập lại vào dòng suối. Những giọt nước ấy ánh sắc hồng ngọc, dần tụ lại và đột khởi, trong không gian tĩnh lặng, như dội cả dòng suối lên. Nước suối cuộn sóng, dựng đứng lên, thành một chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn.

“Trời, Thủy Tinh… Sau biết bao nhiêu năm rồi…” Mỵ Nương khẽ cúi đầu, bắt gặp bờ vai trần của mình vẫn ngời ngợi sáng lên và nàng thấy không còn một chút sợ hãi bỡ ngỡ nào nữa trong lòng. Nàng chợt thấy mình e ấp mà chủ động, mà ở ngoài mọi cương tỏa, như phút nàng đứng sau rèm ngày vua cha kén rể. Nàng thấy mình trinh nguyên. Mắt tai thông thính sáng láng lạ thường…

– Mỵ Nương em có nhận ra tôi không?

– Dạ…

– Vậy thì tôi là ai? Em hãy gọi tên tôi. Hãy gọi tên tôi một lần.

– Chàng đã không tin em rồi…

Mỵ Nương khẽ ngước mắt lên. Mắt nàng không định mà hơi chau lại. Mỵ Nương không tự ái, nàng chỉ nghĩ rằng mình có quyền nghịch ngợm một chút. Nhanh nhẹn, dứt khoát, Mỵ Nương mặc váy áo, đứng dậy chắp tay, thi lễ:

– Em về.

Mỵ Nương bước đi và lắng nghe sau lưng mình, tịnh không có một tiếng động. Chỉ một làn sương bụi nước ấm thơm ngát bỗng lan tỏa, hồng hồng bao lấy Mỵ Nương mà không lấp, không che lối về của nàng.

Nhưng chỉ bền gan được chừng mươi bước chân, Mỵ Nương quay phắt lại. Làn sương ấm đã cuồn cuộn thành một bồng mây óng ánh ngũ sắc chợt tan biến. Gương suối lặng tờ. Thủy Tinh đã biến mất.

Mỵ Nương chạy ào xuống suối, thảng thốt:

– Ôi, Thủy Tinh…

Suối cuộn sóng, một bồng nước dâng, đưa Mỵ Nương giạt lên bờ, ở chỗ lúc nãy nàng ngồi. Những đọt nắng sớm xuất hiện, tãi ấm trên xiêm y, thân thể nàng. Những giọt nước óng ánh trên tóc Mỵ Nương, như châu ngọc li ti.

– Thế là được rồi. Tôi đã được nghe tiếng em gọi tôi thật lòng… Sau bao năm…

Tiếng Thủy Tinh vang lên, trầm ấm. Và Mỵ Nương thấy chàng lại sừng sững đứng đó, giữa tim suối. Thật đẹp và thật buồn.

*
– Hãy nghe tôi… Hãy ngồi yên đó và nghe tôi thôi. Không thì không sao tôi bình tĩnh nổi… Tôi hoàn toàn hiểu rằng chỉ có lần gặp gỡ này thôi, muôn đời tôi sẽ không còn gặp được em nữa. Tôi hiểu em là gái đã có chồng, em sống tuyệt vời hạnh phúc và mẫu mực. Còn tôi: một kẻ bị muôn đời gớm ghiếc, nguyền rủa và cô đơn. Nỗi cô đơn mênh mông, cồn cào, như cả xứ sở đầy sóng gió, biển cả và đại dương của tôi. Nhưng tôi yêu… Tôi đã yêu em, từ lâu lắm rồi cho đến mãi mãi. Từ khi em còn là một cô bé con… Ngày ấy, ngày em lần đầu tiên lên tắm ở tận con suối đầu nguồn này, em còn bé và tôi còn trẻ lắm, tuy cũng đã là Chúa Biển rồi… Ngày ấy, tôi đã biết em, đã tan hòa trong những giọt nước, nô giỡn, cười vui thỏa thích cùng em. Vì ngày ấy, tôi đã tự nhiên cứ muốn một lần được lang thang từ biển vào sông, muốn đi ngược lên mãi và tôi đã đến tận đây, tận nguồn này, gặp đúng ngày đầu tiên em được phép phụ vương nhào mình xuống suối. Rồi tôi phải về biển… Nhưng lòng ước tính từng năm để rồi quyết, để rồi không nén được sẽ phải đến nói cho em, cho phụ vương em rõ tình yêu của tôi. Tôi lên bờ đất Phong Châu để nhận tin phụ vương đã dựng lầu kén chồng cho em. Tôi đã gặp Sơn Tinh nơi quán dịch. Biết bao chàng trai khi nhìn thấy hai chúng tôi đã đành ắng lặng xếp khăn gói, lủi thủi ra về. Thật tội, nhưng biết làm sao? Họ là những người thường và họ biết rõ thứ hạng của chúng tôi: những thần nhân. Sơn Tinh thì chỉ nói với tôi: Chàng nghe nói vua Hùng kén rể, lại cũng nghe nói cô con gái vua ngoan lắm, đẹp lắm. Sơn Tinh còn nói thêm: “Người thần mà lấy con vua, thực là một việc hợp lẽ”. Rồi chàng đi ngủ, thật thanh thản, đàng hoàng, dáng nằm thật thư thái, uy nghi. Chàng ngủ rất ngon. Còn tôi lúc ấy, tôi đã không sao ngủ được, lòng chỉ còn cồn cào một ý nghĩ làm sao gặp được em, thấy được em. Đã bao lần tôi định lẻn trốn ra ngay trong đêm tìm đến chỗ em. Nhưng rồi tôi biết em đã ở trong cung cấm. Và… ý nghĩ cuối cùng khiến tôi đành nén lòng nằm yên chờ sáng… “Biết đâu, em cũng đang ngủ rất ngon, rất say. Thực vô duyên nếu quấy rầy em, nếu làm em dở giấc”.

– Không, thưa chàng, đêm ấy em cũng không sao ngủ được…

– Cảm ơn, cảm ơn em. Đó, tôi và em cứ có những cái giống nhau, những cái trùng nhau vô bổ, vô tích sự, những cái tương hợp chẳng để làm gì ấy như thế đấy… Ô hô! Cuộc đời… Và buổi sáng đã đến… Cả hai chúng tôi được gọi vào chầu phụ vương em cùng một lúc. Cái đường bệ, thong thả ung dung của tôi chỉ là cái dáng vẻ bên ngoài. Mắt tôi đầu tiên đã đặt vào khoảng rèm thoáng lay động sau lưng nhà vua. Có phải em đứng chỗ đó không?

– Dạ, đúng… 


– Chợt nhớ phải giữ ý, không thể nhìn vào đó mãi, tôi đành đăm đăm dõi vào gương mặt cha em. Và như đền bù cho tôi, hai cha con em giống nhau lắm. Tôi gạn được biết bao nét từ cha em thành em. Tôi quên mất, ánh mắt của tôi đã làm ông ở ngay phút đầu dễ có gì ngài ngại, thậm chí khó chịu với tôi. Vừa thi lễ xong, đã nghe lời cha em hỏi: “Chẳng hay hai vị tới đây có việc gì?”. Tôi đã không hiểu ngay lúc ấy. Mãi sau này tôi mới thấy trong câu hỏi ấy có cái oái oăm của một đấng quân vương, cái nếp quen triệu tập mọi người đến vì ý mình rồi lại bâng quơ hỏi nói như phải miễn cưỡng tiếp người ta như không, lẫn cái lối giữ giá của nhà có con gái, dẫu đang ở ngôi chúa tể… Và điều không may mắn nhất, điều lú lẫn nhất của tôi là tôi đã không thấy trước ở đó một lời gợi ý, một điểm nếu thuận theo thì lợi, nếu trật thì mất điểm, thua thiệt ngay thuở đầu. Tôi chỉ lăm lăm bộc bạch, không màng tới đua tranh, khi thua rồi, khi mất em rồi, mới nghĩ lại tất cả. Tôi đã không để ý tới tiếng “việc” (chẳng hay hai vị tới đây có việc gì?) Và Mỵ Nương ơi, có phải là hôm ấy, tôi đã bước lên trước và trả lời trước…

– Vâng, thưa chàng, đúng như vậy. Em cũng có thể nói thêm để chàng rõ: chính vì thế mà trong hai chàng, kỳ thực và tính thật đúng đến từng khắc, thì chàng lại là người mà em biết trước, biết tên, nhìn được mặt, được người trước. Bởi vì chỗ em đứng khuất một thân cột và viền rèm, khiến chỉ có ai bước lên một bước nữa hôm ấy mới qua chỗ khuất và em mới được nhìn thấy. Vì vậy mà em hoàn toàn nhớ: chính chàng đã bước lên trước, đã trả lời trước…

– Và em có còn nhớ câu trả lời của tôi không?

– Thủy Tinh ơi, em không muốn một lần nữa nhắc rằng: chàng đã không tin em, cũng không muốn một lần nữa rời gót khỏi nơi đây, để rồi lại phải chạy lại… Em muốn nói với chàng một lời: Vì sao chàng cứ thích nhắc lại những lời ấy, nó có làm cho chàng dịu bớt được một điều gì đâu? Không nhắc lại thì nói cũng có làm cho chàng mất mát thêm điều gì đâu?… Thủy Tinh ơi, chàng đừng giận nhé, em cảm thấy chàng chẳng có gì khác ngày ấy cả. Chả có gì lớn hơn, từng trải hơn, điềm đạm hơn, thiết thực hơn cả… Không nên như thế, em cảm thấy thế, mong cho…

– Thôi thì tôi sẽ đè bẹp nốt cả cái mong muốn cứ chốc lát lại được nghe tiếng em, dù chỉ một tiếng “có” hay “không”… Thôi thì em lại nghe tôi nhé…

Tôi đã bước lên, nói ngay điều có từ hơn mười năm trước. Tiếng tôi là tiếng sóng cồn lên, va đập:

– Tôi đến đây để bộc bạch với Người tình yêu của tôi với Mỵ Nương, con gái Người.

Và Sơn Tinh, quả thật, thâm trầm điềm đạm như núi và khôn ngoan vững vàng như đất, đã thong thả cất tiếng sau tôi:

– Kính thưa bệ hạ, thần đến đây để xin được cưới công chúa Mỵ Nương, được trở thành con cái trong nhà của triều Hùng.
Thế đấy! Tôi thoáng thấy nhà vua khẽ gật đầu, ánh mắt dành cho Sơn Tinh mềm mại, ưu ái lắm. Tôi cảm thấy mình bị thất thiệt. Phụ vương em quả không hổ tiếng là người đứng đầu trăm họ, lo toan biết bao công việc. Cho nên đã trọng việc hơn trọng tình. Cái việc nó cộn lên lồ lộ, còn cái tình thì vô hình vô ảnh. Tôi thì thổ lộ cái tình, Sơn Tinh xin lo việc và còn hứa sẽ xếp mình vào cùng đội ngũ. Thế là dường như không thể khác, các món sính lễ đã được đặt ra thật dễ hiểu: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao…
Đúng bình minh hôm sau… Ai đến trước sẽ được đón Mỵ Nương về…
Tôi không thể ngờ phụ vương em lại thiên lệch, lại thiếu công bằng, lại rẽ tình tôi với em tàn nhẫn và không trong sáng đến như vậy.

– Thủy Tinh, chàng chớ quên em là…

– Chính vì thế… Và đây, em hãy gắng trả lời tôi từng câu nhé. Một: voi ở núi hay ở biển?

– Dạ, ở núi.

– Ngựa ở núi hay ở biển?

– Dạ, ở núi.

– Gà ở núi hay ở biển?

– Dạ, cũng ở núi.

– Hừ, câu cuối cùng: Núi Tản và Biển Cả, nơi nào xa Phong Châu hơn?

– Dạ, biển xa hơn, xa hơn nhiều. Chàng ơi… đừng hỏi em nữa.

– Thế đấy, tôi ngước lên thì phụ vương em đã phất áo quay vào nội điện rồi. Vả lại, dù cho Người còn đứng đấy thì phỏng tôi nói được gì? Làm sao tôi có thể cãi lại cha của người mình yêu ngay trong lần đầu gặp gỡ. Chưa nói làm sao tôi có thể bộc lộ cái kém cỏi của tôi trước Sơn Tinh ngay tức khắc như thế.

Tôi chỉ thấy ngực mình nóng dội lên, hình như có lửa cháy trong tim tôi. Tôi nhìn vào khoảng rèm, không còn thấy lay động nữa, tôi cảm thấy em không còn ở đó nữa.

– Vâng, cha em vào là vẫy tay bắt em theo sát gót ngay. Người cũng thấy em muốn nán lại, và chắc chính vì thế mà nhất định gọi em cùng vào nội điện ngay…

– Em đã muốn nán lại. Vì sao vậy?

– … Em cũng không biết nữa, cho đến tận bây giờ…

– Còn tôi thì cứ đứng sững bên thềm đại điện. Mãi một lúc lâu, khi giật mình quay ra thì chỉ thấy trống trơ có một mình mình. Sơn Tinh đã ra về tự lúc nào.

Tôi về biển, lòng rầu rĩ, thẫn thờ. Cầm bằng như đã bị cướp mất em. Đám bầy tôi, đàn em của tôi xúm lại hỏi mãi, tôi mới dật dờ nhớ lại được, kể lại mọi việc lần lần. Tức thì có ba đứa bước ra, đập đầu loang máu: Thuồng luồng, Ba ba, Cá Ngực. Chúng tôi xin nguyện hiến mình cho tôi, cam hóa thân thành voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.

Quyền phép thì tôi có tu luyện đủ đầy, nhưng phàm việc hóa thân thì phải có lửa. Mà dưới Thủy Tinh cung của tôi, chẳng lửa nào cháy được. Tôi ôm lấy lũ đàn em, nước mắt cứ vỡ ra. Bỗng lồng ngực tôi nóng rực. Tôi sững sờ: trái tim tôi đã cháy lên, ngùn ngụt. Ngọn Hỏa Tâm ấy đã làm được tất cả. Đêm ấy, ba tầng nước Thủy Tinh cung thẩy đều sôi động. Tầng trên cùng đen cháy, sôi sục, hứng trọng lều bều những lớp vẩy vỏ của những xác hóa thân. ở tầng giữa, nước đỏ bầm mầu máu cháy. Và ở dưới cùng, cõi nước lung linh sáng rực nơi lò luyện. Gần sáng thì cả ba con vật đã hiện hình, đã đi, đã thở rống lên, đã gục gặc đầu vai, đã ra hẳn sự sống voi, ngựa, gà… Lồng ngực tôi thoáng đãng như những buổi sớm mai ở biển. Tôi dẫn đầu đoàn sính lễ vội trẩy ngược Phong Châu, nghe gió lướt tràn rạt hai bên mang tai mình.

Nhưng tôi đã đến chậm bốn khắc. 


Tôi đến để vừa kịp nhìn Sơn Tinh cưỡi ngựa đi trước, kiệu hoa của em uyển chuyển theo sát, như có dây buộc, đằng sau… Cái uyển chuyển do vai một cỗ bốn người khênh tài giỏi theo nhịp nhạc lễ, mà tôi lại cứ nghĩ từ em, em uyển chuyển theo sau Sơn Tinh. 


Lòng tôi tuyệt nhiên không một mảy may oán hận Sơn Tinh. Tôi chỉ đau xót cho tôi. Tôi đứng chết sững, và không thể cầm được nước mắt ào ào dâng lên, túa ra giàn giụa. Tôi khóc như một người thường. Tôi quên mất mình là thần Biển, thần Nước… Mỵ Nương, em có thấy không, hôm ấy, mưa trước hay nước dâng lên trước, hãy nói tôi nghe! 


– Chàng đã nói lại hoàn toàn đúng… Em ngồi trong kiệu, đã thấy chàng đến sau, rồi đứng sững nơi ngã ba Phong Châu… Và trước lúc khuất hẳn, em ngoái lại, khẽ vén rèm kiệu nhìn về phía chàng lần cuối thì thấy trên mái kiệu của em, tiếng nước rơi, tiếng mưa mỗi lúc một dồn dập, rào rào… Cũng lúc ấy, Sơn Tinh giục cả đoàn phải đi mau. Chồng em bảo: “Phải đến được địa giới núi Tản trước khi Thủy Tinh kịp dâng nước lên…”. Và đúng như thế, vừa khi ngước lên thấy ngọn Tản Viên, thì nhìn xuống đã thấy sóng trắng cuồn cuộn sôi sục, gần bén sát chân ngựa… Chồng em đã nói đúng. Chàng làm sao chối được tội lỗi tàn sát bao sinh linh, hoa lợi, mùa màng, chỉ vì một chút… em…


-… Tôi đã chỉ đứng khóc. Tôi không bao giờ cho lệnh dâng nước lên… Nhưng phía sau tôi lúc ấy đã có nhiều điều xảy ra. Tôi không biết rằng khi tôi vừa sững sờ thấy cảnh Sơn Tinh đón mất em, khi tôi vừa rùng mình lần đầu, thấy mất hết sức mạnh lần đầu, thì cũng lúc ấy, cả thuồng luồng, ba ba, cá ngựa đã cùng thoắt rùng mình trút lốt, hiện lại nguyên hình. Những thân hình mạnh mẽ duyên dáng khi uốn lượn giữa sóng nước ấy nay đột ngột chềnh ềnh ra trên cạn, trông quằn quại, nhãy nhợt, gớm ghiếc, tanh tưởi lắm. Và những người dân Phong Châu đã kéo ra xem đám cưới em, lúc ấy cũng cất tiếng cười ồ cả lên. Tôi vĩnh viễn trở thành kẻ gian manh, giả trá, kẻ làm đồ giả đầu tiên, từ phút ấy. Thật kinh khủng. Một thần nhân mà đang tâm lừa vua, dối Chúa, toan cướp đoạt công chúa đẹp xinh nhất nước bằng quỷ kế, bằng thủ đoạn đốn mạt, lập lờ đánh lận con đen. 


Tiếng cười ồ lan rộng vang mãi của bao người Phong Châu hôm ấy khiến tôi không thể đứng mãi đó mà nhìn theo em được. Tôi đành gạt nước mắt, giơ tay ra hiệu cho các bầy tôi quay trở lại biển khơi. 


Nhưng không được, các bầy tôi, đàn em của tôi vốn đều là những Thủy thần, Thủy quái có uy lực nhất định. Những kẻ đã sẵn sàng hóa thân vì tôi nay hoàn toàn có lý phẫn nộ trước tôi – vị thủ lĩnh thất bại và cam bó tay, nước mắt chan hòa, đầu cúi, chân rã rời lê bước về chỗ xuất phát. 


Tôi đã một mình về biển. 


Và Thuồng luồng, Ba ba, Cá ngựa cùng muôn loài Thủy quái đã phẫn nộ ào ạt dâng nước lên, ngược với chiều tôi đi, xối xả nghiêng về núi Tản.

Sơn Tinh cùng em và muôn loài ở núi đã vất vả chống chọi như thế nào và đã chiến thắng vẻ vang ra sao, tất cả mọi người đều đã biết.

Nhưng đấy hoàn toàn không một chút gì là chiến thắng Thủy Tinh. Thủy Tinh không hề có mặt trong những con nước ấy. 


Tôi biết Sơn Tinh có thể khiến nước dâng đến đâu núi cao lên đến đấy. Nhưng đấy chỉ là nước do sức của loài Thủy thần, Thủy quái dưới tôi.

Trời ơi! Nếu quả thật có một chút tôi điên cuồng triển hết sức mình động biển, thì, Mỵ Nương ơi, cơn đại hồng Thủy ấy sẽ biến tức khắc tất cả núi Tản, nơi đây, Phong Châu nữa, thành lãnh địa của tôi, nghìn trùng sóng vỗ, mãi mãi. Nhưng như thế để làm gì? Tôi sẽ mất em, nỗi nhớ em, lòng mong muốn hướng về em, mất hết, mất vĩnh viễn. 


Và… Lại lần nữa, tôi không thể chối bỏ được trách nhiệm của người thủ lĩnh. Người Phong Châu và mãi mãi đến sau này, lớp lớp cháu con những người thường, đời đời nguyền rủa tôi: tên chúa trùm của nạn lụt hung bạo. Người đời đã vẽ hình tôi, truyền lại cho con cháu, găm vào bia cho các tráng sĩ tập bắn, tập ném đá, cho nên ác độc, xấu xí, hung tợn dị thường. Nanh tôi mọc dài, mặt tôi xanh lét, mắt tôi ti hí gian giảo, đầu tôi úp một con ốc vặn xoắn xuýt hèn mọn. May sao… hôm nay, em vẫn nhận ra tôi, cái tôi thật là của tôi.

Đã bao lần tôi can ngăn, thậm chí có lần tôi đã van xin các bầy tôi, đàn em của mình, đừng tháng tháng năm năm, đến kỳ lại dâng nước về đất liền như thế nữa. Nhưng Mỵ Nương ơi, đến mùa ấy, những vết đau nhức của một lần hóa thân lại tấy lên dữ dội. Cơn điên khùng bệnh lý của muôn loài Thủy tộc lại kịch phát… Những ngày ấy, tôi náu mình trong biệt điện tận cùng Thủy Tinh cung, day dứt nhớ về em và tin ở những triền đê ngày càng vững chắc của Sơn Tinh.

Bây giờ thì tôi đã từ bỏ tất cả. Tôi đã quyết trả lại ngôi Chúa Biển. Tôi về đây, cố hướng mãi, cố nhỏ bé mãi con người mình đi tìm được tận đến suối nguồn này, hy vọng gặp em. Và… duyên phận đã cho tôi… Em đây rồi. Tôi đã được nói hết lòng mình, những lời phải nén sâu chôn chặt bao năm, riêng em… Thế là hết, tôi chả còn gì để nói nữa, để mong nữa. Tôi chẳng biết mình sẽ làm gì bây giờ. Chỉ biết rằng chưa chắc tôi đã có thể trở nên có ích hơn, nhưng sẽ được sống thanh thản hơn, nhẹ nhõm hơn. Lại biết đến bao giờ, đến bao giờ nữa, tôi mới có thể gặp lại em… 


– Thủy Tinh ơi… em hiểu chàng và mong chàng hiểu em. Em phải về ngay bây giờ đây. Em không thể khuyên chàng điều gì. Những thần nhân như chàng và chồng em, làm sao em lại có thể có lời khuyên. Em chỉ mong chàng đừng rời biển cả. Em chưa thấy biển bao giờ… Nhưng… nếu không có chàng thì ngọn Hỏa Tâm ấm nóng, sức sống, tiếng gọi hóa thân ở biển sẽ ở đâu, biển còn trong sạch, phóng khoáng, đẹp, quyến rũ, tràn đầy tình yêu nữa hay không? Biển có còn đáng hướng tới nữa hay không? Em không hiểu, em không biết là mình vừa nói gì nữa. Thủy Yinh ơi, đừng nghĩ là em muốn đuổi chàng, đừng nghĩ là em không muốn gặp lại chàng nữa, đừng… Nhưng, cũng đừng để em thấy như mình đã bắt đầu có lỗi, bắt đầu mang tội với… 


– Hãy bình tâm, Mỵ Nương. Tôi hiểu em hoàn toàn. Hãy trở về đi và gắng sống như đã sống. Tôi cũng vậy. Tôi sẽ nghe lời em. Còn nếu nhớ tôi, thì mỗi năm một lần, đúng tiết thu, ngày này, em hãy ở một mình và mở cửa sổ phòng riêng. Em sẽ thấy những giọt mưa đầu trong vắt thả như buông rèm trước mặt. Đó là tôi, là Thủy Tinh này. Chúng ta sẽ gặp nhau như thế. Và chỉ gặp nhau như thế.

*
Mỵ Nương đã thầm lặng, riêng tư theo lời ấy. Và đó chính là nguồn gốc của những giọt mưa thu thánh thót ngoài hiên, đem cái se lạnh gợi nhớ để tôn thêm giá trị cái ấm áp của những ai đang trong khuôn cửa. Độ phong sương trong vắt của tiết giao mùa kề bên mái ấm, thế thôi. 


Mỵ Nương mở cửa, không đừng được, đưa tay hứng một giọt mưa. Hạt nước mọng tròn đọng giữa lòng bàn tay nàng tiếp hơi ấm bàn tay, tỏa bụi nước ấm. Chút bụi trắng tinh lấp lánh giữa lòng bàn tay, Mỵ Nương đưa lên môi. Vị mặn của muối. Mỵ Nương mấp máy, gọi thầm: “Thủy Tinh! Thủy Tinh!…”. 


Những giọt mưa Thủy Tinh ấy nhỏ bé, tí xíu mà vẫn trọn vẹn mang hồn biển, nên nó rây bột muối lên cả thành cửa sổ, làm mặn cả ngoài hiên… Và, dẫu chỉ có một ngày mà khiến quanh năm vách gỗ phía đông cứ ầm ì tiếng sóng. Chỉ riêng Mỵ Nương nghe thấu tiếng sóng ngậm trong các thớ vách gỗ ấy. Hằng giờ, hằng ngày, nàng áp má vào vách gỗ phía đông ấy, nghe, mà cồn cào tưởng đến biển, mà khát khao được thấy biển một lần… 


Nàng đã không thể sống như đã sống. 


Và Sơn Tinh – thần nhân trầm tư, chắc chắn, đầy khôn ngoan và thiên lương – thấu hiểu tất cả. Chàng không mảy may thấy lạ lùng, sửng sốt. Nhưng nỗi niềm của Mỵ Nương là nỗi niềm của mỗi một người thường… Chàng chỉ thầm nhủ: “Rõ ràng bên cạnh những việc lớn bộn bề ta phải có trách nhiệm, phải để ý đến vợ ta hơn. Nàng đi đâu, chạy đến đâu, làm gì, hãy để nàng đi, nàng chạy, nàng làm, nhưng đừng để nàng thiếu ánh sáng chỉ có thể chiếu ra từ mắt ta, từ tâm não ta, ánh sáng chưa bao giờ vẩn đục, chưa một phút mờ ám. ánh sáng lúc nào cũng tinh khôi của núi, ánh sáng soi rọi mọi nẻo đường cho nàng, từ khi nàng về với ta”. 


Rồi đến một buổi sớm quang mây, Sơn Tinh thấy Mỵ Nương đứng kề bên cửa sổ, chàng đứng sau cất tiếng gọi mà không nghe nàng trả lời… Có một ngọn gió thơm mát, không từ ngoài trời thổi vào, mà vừa từ trong phòng riêng này cộn lên và bay qua cửa sổ, tung tăng bay đi, chạy đi. Mắt Sơn Tinh bừng lên, sáng trong và khoan dung, dõi theo ngọn gió thơm đang chạy. Chàng biết: người thường giao duyên với thần nhân lâu ngày thì đến lúc nào đó, hội với khát vọng, cũng đủ sức phân thân. Ngọn gió ấy chính là Mỵ Nương đấy!

Trong ánh sáng trầm tư trong như lọc của núi, ngọn gió thơm mát bay dọc theo suối, ùa tới cánh đồng rộng, vập vào những triền đê cao vững chắc – những triền đê che chắn bình yên một thời, và cũng che khuất tầm mắt một thời – ngọn gió rướn lên, bay dọc triền đê, hồ hởi ào theo những con sông tới biển.

Biển mênh mông, xanh thẳm đến tận mí trời, cợn lên những cụm hoa trắng muốt, trải đến tận bờ đón ngọn gió nhỏ. Những tiếng rì rào khe khẽ lặn vào tĩnh mịch vô biên… 


*
Người ở biển bảo tôi: 

– Đó là những ngày đẹp trời. 

    Hòa Vang, ngày 03-11-1988

 
Bình luận về bài viết này

Posted by trên Tháng Tám 26, 2016 in Lưu, Truyện

 

Nhãn: ,

 
Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu